Đền Nghè nằm trên đường Suối Rồng thuộc phường Vạn Hương, quận Đồ Sơn là Di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố. Đền được xây dựng ở lưng chừng núi, nơi đất trời, biển cả, núi non giao hòa. Đây là ngôi đền “hàng tổng” của Đồ Sơn, được người dân vùng biển này coi trọng vì nơi đây thờ “Lục vị tiên công”, 6 vị thần có công lập nên đất Đồ Sơn.
Đặc biệt, với người dân Đồ Sơn, đền Nghè còn gắn liền với lễ hội chọi trâu truyền thống khi ngôi đền này thờ Điểm Tước Thần Vương, một vị thần liên quan đến tục chọi trâu ở Đồ Sơn. Tại đền Nghè, trước và sau lễ hội chọi trâu, đền là nơi nhân dân và các giáp, các phường tập trung về để tế lễ. Là nơi diễn ra lễ dâng hương, lễ rước nước- linh hồn phần lễ của lễ hội chọi trâu hàng năm của Đồ Sơn.
Ngược theo dòng lịch sử mới thấy được hết sự độc đáo và tâm linh của ngôi đền này. Trước năm 1945, tổng Đồ Sơn có 2 xã, 5 làng; làng nào cũng có đình, đền riêng, song hầu như tất cả có duy nhất một vị thành hoàng. Vị thành hoàng chung của người dân Đồ Sơn xưa được các làng, xã thờ là thần Điểm Tước.
Dulichgo
Nguồn gốc của vị thần này bắt nguồn từ một truyền thuyết xa xưa, kể rằng vùng đất Đồ Sơn đang yên vui bỗng có một con thuỷ quái đến phá hoại các xóm vạn chài. Được sự giúp đỡ của thần linh, xóm vạn chài trở nên yên vui, cư dân Đồ Sơn tiến hành lễ cầu duệ hiệu (tên gọi của thần).
Sau 7 ngày, 5 đêm thì thấy hiện lên nốt chân chim trên mâm bột, từ đó Điểm Tước trở thành tên gọi của thành hoàng tổng Đồ Sơn (Điểm Tước có nghĩa là vết chân chim). Từ nguồn gốc của vị thành hoàng làng này, tục chọi trâu được hình thành ở Đồ Sơn và là tập tục rất lâu đời của người Việt cổ được lưu giữ cho đến ngày nay.
Với những nghi thức độc đáo mang màu sắc của văn hoá vùng ven biển, tục chọi trâu Đồ Sơn trở thành một lễ hội đặc biệt mang tầm vóc quốc gia. Lễ hội chọi trâu được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Đến thăm quần thể Đền Nghè, ngoài việc chiêm ngưỡng Tượng đài, quí khách thường chú ý đến 2 vật tích độc đáo trong Đền – đó là Khánh đá và Sập đá. Khánh làm bằng một tấm đá nguyên dày 5cm được tách ra thành hình chiếc khánh (có chiều cao 1m, rộng 1,6m).
Dulichgo
Mặt trước khánh khắc nổi 2 con rồng chầu mặt nguyệt và hình mây bay xung quanh. Mặt sau khánh khắc hình mây bay và sóng nước, cả hai mặt có 2 núm tròn, lồi cao là chỗ để gõ. Tiếng khánh đá trong ngân vang êm dịu, lan tỏa, hướng ta tới cõi tâm linh huyền ảo mà thiêng liêng.
Đền Nghè hiện nay được tu bổ, tôn tạo thành một công trình mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn, đầu thế kỷ 20 bao gồm: tam quan, tòa bái đường, thiêu hương, hậu cung, giải vũ, nhà bia, nơi đặt tượng voi đá, ngựa đá. Phía sau làm thêm tòa tứ phủ. Tòa bái đường gồm 5 gian được nâng đỡ bởi 16 cột gỗ lim, kê trên 16 viên đá tảng đục đẽo công phu, tỉ mỉ. Chính giữa nóc nhà bái đường đắp nổi hàng chữ Hán lớn “ An Biên cổ miếu”.
Di tích đền Nghè - Đồ Sơn hội tụ đủ cả hai yếu tố vật thể và phi vật thể để trở thành một di sản văn hoá rất có giá trị, được xây dựng và tồn tại trong một không gian văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc.
Theo Báo Hải Phòng
Du lịch, GO!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2015
Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2015
Thăm Đền Mõ ở Hải Phòng
Đền, chùa Mõ thuộc xã Ngũ Phúc huyện Kiến Thụy, Hải Phòng, nằm cách trung tâm huyện khoảng 4km sát ngay bên đường quốc lộ. Đền Mõ thờ Quỳnh Trân công chúa, người đã có công khai hoá mảnh đất này.
< Cổng Tam quan Đền Mõ Hải Phòng.
Năm Quí Mùi (1283), công chúa xin vua Trần Thánh Tông cho xuất gia qui y nơi cửa Phật và được chấp thuận. Công chúa đã chọn đất thuộc làng Nghi Dương (thuộc huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương) làm nơi lập am. Sau đó bà chiêu mộ dân đến khai hoang lập ấp, rồi cùng với dân xây dựng lại thành ngôi chùa Mõ .
Theo lời kể dân gian công chúa đặt hiệu lệnh bằng tiếng mõ để mọi người nghe đó mà nghỉ ngơi, ăn uống, đi làm...nên mọi người gọi công chúa là “ Bà chúa Mõ”, rồi tụ tập trai tráng mở vật cầu trời cho mưa thuận gió hòa, có nước cho nhà nông cấy trồng, mùa màng tươi tốt.
Dulichgo
Tháng 11 năm Mậu Thân, công chúa viên tịch. Thi hài được đưa về chùa Tư Phúc ở kinh sư lập tháp an táng. Vua Trần Anh Tông ra sắc chỉ tặng phong Trần Triều A Nương Thiên Thụy Quỳnh Trân công chúa, ban cấp 300 quan tiền đồng cho 5 xã rước sắc phong về xã Nghi Dương lập đền thờ. Đền Mõ có từ đó và được lưu giữ đến ngày nay.
Đền được xây dựng cạnh chùa tạo thành một quần thể kiến trúc thống nhất. Đền Mõ nằm trong khuôn viên có diện tích 12.724m2, bên cạnh đền là một chùa cổ, (gọi là chùa Mõ) có cây gạo cổ thụ trên 700 năm, cành lá xum xuê tỏa bóng. Từ ngoài vào là con đường nhỏ chạy dài xuyên qua Tam quan gọi là Thần đạo.
Theo "thần đạo", chạy thẳng vào là gian tiền đường (nhân dân quen gọi là cung đệ tam), hai bên là hai toà giải vũ 5 gian, 2 trái. Kiến trúc của đền gồm 3 toà nhà, bố cục theo kiểu “Tiền nhất hậu đinh”, gồm 5 gian tiền đường (cung đệ tam), 5 gian đại bái (cung đệ nhị) và 2 gian hậu cung hình chuôi vồ.
Các toà nhà kề sát nhau tạo cho đền mang dáng vẻ thâm nghiêm và trang trọng. Toà tiền đường xây theo kiểu "tường hồi bổ trụ giật tam cấp", tạo cho ngôi đền mang dáng vẻ vững chắc. Ba gian trung tâm toà tiền đường lắp hệ thống cửa gỗ lim kiểu "cửa tùng cung khách" chắc chắn và đẹp.
Tượng Quỳnh Trân công chúa được đặt trong khám ở gian hậu cung, nơi trang nghiêm của ngôi đền. Hơn 700 năm đã trôi qua, lịch sử đã bao bước thăng trầm nhưng đền chùa Mõ vẫn được gìn giữ như thủa ban đầu bằng lòng thành kính của người dân nơi đây.
Dulichgo
Hàng năm lễ hội đền chùa Mõ vẫn được tổ chức vào mồng 6 tháng Giêng (lễ Kỳ Phúc) và thường được kéo dài ba ngày với nhiều hoạt động như : lễ rước Thành Hoàng làng, hội vật Cầu Đảo, các trò chơi đánh cờ, chọi gà, tổ tôm điếm . Trong các dịp lễ hội, đền chùa Mõ luôn được đón nhận rất nhiều khách thập phương tới thăm.
Đền Mõ là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ, một di tích lịch sử văn hóa thờ Công chúa Thiên Thụy, người có công với quê hương đất nước và đã được các triều đại nhà nước phong kiến trao 12 bản sắc phong. Năm 1991 đền Mõ xã Ngũ Phúc được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia. Đến nay Đền Mõ đã và đang được tu bổ khang trang tố hảo.
Theo Dulichhaiphong
Du lịch, GO!
< Cổng Tam quan Đền Mõ Hải Phòng.
Năm Quí Mùi (1283), công chúa xin vua Trần Thánh Tông cho xuất gia qui y nơi cửa Phật và được chấp thuận. Công chúa đã chọn đất thuộc làng Nghi Dương (thuộc huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương) làm nơi lập am. Sau đó bà chiêu mộ dân đến khai hoang lập ấp, rồi cùng với dân xây dựng lại thành ngôi chùa Mõ .
Theo lời kể dân gian công chúa đặt hiệu lệnh bằng tiếng mõ để mọi người nghe đó mà nghỉ ngơi, ăn uống, đi làm...nên mọi người gọi công chúa là “ Bà chúa Mõ”, rồi tụ tập trai tráng mở vật cầu trời cho mưa thuận gió hòa, có nước cho nhà nông cấy trồng, mùa màng tươi tốt.
Dulichgo
Tháng 11 năm Mậu Thân, công chúa viên tịch. Thi hài được đưa về chùa Tư Phúc ở kinh sư lập tháp an táng. Vua Trần Anh Tông ra sắc chỉ tặng phong Trần Triều A Nương Thiên Thụy Quỳnh Trân công chúa, ban cấp 300 quan tiền đồng cho 5 xã rước sắc phong về xã Nghi Dương lập đền thờ. Đền Mõ có từ đó và được lưu giữ đến ngày nay.
Đền được xây dựng cạnh chùa tạo thành một quần thể kiến trúc thống nhất. Đền Mõ nằm trong khuôn viên có diện tích 12.724m2, bên cạnh đền là một chùa cổ, (gọi là chùa Mõ) có cây gạo cổ thụ trên 700 năm, cành lá xum xuê tỏa bóng. Từ ngoài vào là con đường nhỏ chạy dài xuyên qua Tam quan gọi là Thần đạo.
Theo "thần đạo", chạy thẳng vào là gian tiền đường (nhân dân quen gọi là cung đệ tam), hai bên là hai toà giải vũ 5 gian, 2 trái. Kiến trúc của đền gồm 3 toà nhà, bố cục theo kiểu “Tiền nhất hậu đinh”, gồm 5 gian tiền đường (cung đệ tam), 5 gian đại bái (cung đệ nhị) và 2 gian hậu cung hình chuôi vồ.
Các toà nhà kề sát nhau tạo cho đền mang dáng vẻ thâm nghiêm và trang trọng. Toà tiền đường xây theo kiểu "tường hồi bổ trụ giật tam cấp", tạo cho ngôi đền mang dáng vẻ vững chắc. Ba gian trung tâm toà tiền đường lắp hệ thống cửa gỗ lim kiểu "cửa tùng cung khách" chắc chắn và đẹp.
Tượng Quỳnh Trân công chúa được đặt trong khám ở gian hậu cung, nơi trang nghiêm của ngôi đền. Hơn 700 năm đã trôi qua, lịch sử đã bao bước thăng trầm nhưng đền chùa Mõ vẫn được gìn giữ như thủa ban đầu bằng lòng thành kính của người dân nơi đây.
Dulichgo
Hàng năm lễ hội đền chùa Mõ vẫn được tổ chức vào mồng 6 tháng Giêng (lễ Kỳ Phúc) và thường được kéo dài ba ngày với nhiều hoạt động như : lễ rước Thành Hoàng làng, hội vật Cầu Đảo, các trò chơi đánh cờ, chọi gà, tổ tôm điếm . Trong các dịp lễ hội, đền chùa Mõ luôn được đón nhận rất nhiều khách thập phương tới thăm.
Đền Mõ là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ, một di tích lịch sử văn hóa thờ Công chúa Thiên Thụy, người có công với quê hương đất nước và đã được các triều đại nhà nước phong kiến trao 12 bản sắc phong. Năm 1991 đền Mõ xã Ngũ Phúc được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia. Đến nay Đền Mõ đã và đang được tu bổ khang trang tố hảo.
Theo Dulichhaiphong
Du lịch, GO!
Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2015
Trầm mặc Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn
(BAVN) - Vương cung Thánh đường Đức Bà Sài Gòn năm nay vừa tròn 135 năm tuổi, uy nghi, cổ kính như một chứng nhân trầm mặc tọa lạc ở Công trường Công xã Paris, giữa trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh.
< Nhà thờ Chính tòa Đức Bà Sài Gòn (gọi tắt là Nhà thờ Đức Bà) năm nay vừa tròn 135 tuổi, một trong những biểu tượng kiến trúc của Tp. Hồ Chí Minh.
Đây là nơi không chỉ để người Công giáo đến làm lễ, cầu nguyện mà còn là một địa chỉ du lịch cho du khách khi đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh.
< Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn cổ kính như một chứng nhân trầm mặc trước cuộc sống sôi động của Thành phố. Tượng Đức Mẹ Hòa Bình cao 4,6m làm bằng đá cẩm thạch của Ý đặt phía trước Nhà thờ, là nơi cầu nguyện tâm linh của nhiều giáo dân.
Dulichgo
Nhà thờ được người Pháp đặt viên đá xây dựng đầu tiên vào ngày 7/10/1877 và hoàn thành vào năm 1880 dựa trên bản thiết kế của kiến trúc sư J. Bourad. Nhà thờ với kiến trúc theo kiểu Roman cải biên, pha trộn nét Gothique có chiều dài 93m, rộng 35m, vòm mái cao 21m.
< Nhà thờ mở cửa đón khách tham quan hàng ngày và các lễ thánh được tổ chức nhiều lần trong ngày, đặc biệt Chủ Nhật có cả lễ thánh bằng tiếng Việt lẫn tiếng Anh.
Năm 1895, nhà thờ xây thêm hai tháp chuông, mỗi tháp cao 57,6m và làm 6 chuông đồng lớn nặng 28,85 tấn. Mặt chính tòa nhà hướng về đường Đồng Khởi, một trong những con đường xưa nhất và sầm uất nhất của Sài Gòn.
< Bộ máy đồng hồ của Nhà thờ cao khoảng 2,5m, dài khoảng 3m.
Ngói dùng để lợp mái nhà thờ gồm ba loại ngói chính: ngói âm dương dùng lợp cho mái thấp, ngói vảy cá lợp vùng mái trung gian và ngói tây ở phía trên khu vực chánh điện. Các loại ngói đều có đặc tính dễ lợp, bền chắc, chịu được mưa nắng, sử dụng lâu dài.
< Hai tháp chuông chứa 6 quả chuông lớn, được chế tạo ở Pháp và chỉ vào đêm Giáng sinh mới cùng vang lên.
Dulichgo
Tường nhà thờ gồm hai phần, phần móng được xây dựng bằng đá tảng và phần tường xây bằng gạch nung già. Đây là loại gạch thẻ sản xuất trong nước vào thế kỷ 19 khá bền, không bị bám bụi rêu và màu sắc không thay đổi theo thời gian. Tường nhà thờ có độ dày 65cm được thiết kế cách nhiệt, cách âm, giảm tiếng ồn từ bên ngoài vọng vào.
< Toàn bộ thánh đường có 56 ô cửa kính màu do hãng Lorin của tỉnh Chartres Pháp sản xuất.
Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện với sức chứa khoảng 1.200 người. Lòng nhà thờ gồm ba gian và một hành lang quanh chánh điện. 56 ô cửa kiếng màu bao quanh lưng tường mô tả các nhân vật hay sự kiện trong Thánh kinh là một trong những nét độc đáo của nhà thờ.
< Kiến trúc bên trong thánh đường tạo nên một hiệu ứng ánh sáng cho nội thất và một cảm giác thánh thiện.
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn là một trong hai nhà thờ tại Việt Nam được nâng lên hàng vương cung thánh đường nhân dịp thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam vào năm 1960. Từ đó, tên gọi chính thức của nhà thờ là Vương cung Thánh đường Đức Bà Sài Gòn, nhưng tên gọi nhà thờ Đức Bà Sài Gòn đã trở thành thân thuộc của người dân nơi đây.
< Các em bé thích thú khi được tự tay cho bồ câu ăn, vuốt ve và tạo dáng chụp hình với những chú chim thân thiện.
< Nhiều đôi trẻ chọn khu vực Công trường Công xã Paris làm nơi lưu giữ những tấm hình cưới của mình.
Dulichgo
Ngày nay, nhà thờ Đức Bà Sài Gòn đã trở thành một trong những biểu tượng kiến trúc tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh. Không chỉ là nơi để người Công giáo đến làm lễ, cầu nguyện mà nơi đây còn là một địa chỉ du lịch cho du khách khi đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh.
Vào những sáng cuối tuần, khuôn viên nhỏ phía trước nhà thờ có tượng Đức Mẹ Hòa Bình cao 4,6m làm bằng đá cẩm thạch là nơi cầu nguyện tâm linh của nhiều giáo dân. Hàng trăm con bồ câu sà xuống xung quanh chân tượng thờ để tìm kiếm thức ăn từ những người hảo tâm đã nuôi chúng hơn mười năm nay. Bọn trẻ rất thích thú khi được tự tay cho bồ câu ăn, rồi vuốt ve và tạo dáng chụp hình với những chú chim thân thiện.
< Về đêm khu vực Công trường Công xã Paris càng trở nên nhộn nhịp, sinh động.
Dulichgo
Dự kiến vào cuối năm 2015, Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn sẽ được trùng tu nhiều hạng mục đã xuống cấp, hư hỏng như: mái ngói, 2 ngọn tháp, cột, kèo, rui mè, kính, các bức tường bị bôi bẩn phía ngoài...
Theo Sơn Nghĩa, Nguyễn Luân, Trọng Chính (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!
< Nhà thờ Chính tòa Đức Bà Sài Gòn (gọi tắt là Nhà thờ Đức Bà) năm nay vừa tròn 135 tuổi, một trong những biểu tượng kiến trúc của Tp. Hồ Chí Minh.
Đây là nơi không chỉ để người Công giáo đến làm lễ, cầu nguyện mà còn là một địa chỉ du lịch cho du khách khi đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh.
< Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn cổ kính như một chứng nhân trầm mặc trước cuộc sống sôi động của Thành phố. Tượng Đức Mẹ Hòa Bình cao 4,6m làm bằng đá cẩm thạch của Ý đặt phía trước Nhà thờ, là nơi cầu nguyện tâm linh của nhiều giáo dân.
Dulichgo
Nhà thờ được người Pháp đặt viên đá xây dựng đầu tiên vào ngày 7/10/1877 và hoàn thành vào năm 1880 dựa trên bản thiết kế của kiến trúc sư J. Bourad. Nhà thờ với kiến trúc theo kiểu Roman cải biên, pha trộn nét Gothique có chiều dài 93m, rộng 35m, vòm mái cao 21m.
< Nhà thờ mở cửa đón khách tham quan hàng ngày và các lễ thánh được tổ chức nhiều lần trong ngày, đặc biệt Chủ Nhật có cả lễ thánh bằng tiếng Việt lẫn tiếng Anh.
Năm 1895, nhà thờ xây thêm hai tháp chuông, mỗi tháp cao 57,6m và làm 6 chuông đồng lớn nặng 28,85 tấn. Mặt chính tòa nhà hướng về đường Đồng Khởi, một trong những con đường xưa nhất và sầm uất nhất của Sài Gòn.
< Bộ máy đồng hồ của Nhà thờ cao khoảng 2,5m, dài khoảng 3m.
Ngói dùng để lợp mái nhà thờ gồm ba loại ngói chính: ngói âm dương dùng lợp cho mái thấp, ngói vảy cá lợp vùng mái trung gian và ngói tây ở phía trên khu vực chánh điện. Các loại ngói đều có đặc tính dễ lợp, bền chắc, chịu được mưa nắng, sử dụng lâu dài.
< Hai tháp chuông chứa 6 quả chuông lớn, được chế tạo ở Pháp và chỉ vào đêm Giáng sinh mới cùng vang lên.
Dulichgo
Tường nhà thờ gồm hai phần, phần móng được xây dựng bằng đá tảng và phần tường xây bằng gạch nung già. Đây là loại gạch thẻ sản xuất trong nước vào thế kỷ 19 khá bền, không bị bám bụi rêu và màu sắc không thay đổi theo thời gian. Tường nhà thờ có độ dày 65cm được thiết kế cách nhiệt, cách âm, giảm tiếng ồn từ bên ngoài vọng vào.
< Toàn bộ thánh đường có 56 ô cửa kính màu do hãng Lorin của tỉnh Chartres Pháp sản xuất.
Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện với sức chứa khoảng 1.200 người. Lòng nhà thờ gồm ba gian và một hành lang quanh chánh điện. 56 ô cửa kiếng màu bao quanh lưng tường mô tả các nhân vật hay sự kiện trong Thánh kinh là một trong những nét độc đáo của nhà thờ.
< Kiến trúc bên trong thánh đường tạo nên một hiệu ứng ánh sáng cho nội thất và một cảm giác thánh thiện.
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn là một trong hai nhà thờ tại Việt Nam được nâng lên hàng vương cung thánh đường nhân dịp thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam vào năm 1960. Từ đó, tên gọi chính thức của nhà thờ là Vương cung Thánh đường Đức Bà Sài Gòn, nhưng tên gọi nhà thờ Đức Bà Sài Gòn đã trở thành thân thuộc của người dân nơi đây.
< Các em bé thích thú khi được tự tay cho bồ câu ăn, vuốt ve và tạo dáng chụp hình với những chú chim thân thiện.
< Nhiều đôi trẻ chọn khu vực Công trường Công xã Paris làm nơi lưu giữ những tấm hình cưới của mình.
Dulichgo
Ngày nay, nhà thờ Đức Bà Sài Gòn đã trở thành một trong những biểu tượng kiến trúc tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh. Không chỉ là nơi để người Công giáo đến làm lễ, cầu nguyện mà nơi đây còn là một địa chỉ du lịch cho du khách khi đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh.
Vào những sáng cuối tuần, khuôn viên nhỏ phía trước nhà thờ có tượng Đức Mẹ Hòa Bình cao 4,6m làm bằng đá cẩm thạch là nơi cầu nguyện tâm linh của nhiều giáo dân. Hàng trăm con bồ câu sà xuống xung quanh chân tượng thờ để tìm kiếm thức ăn từ những người hảo tâm đã nuôi chúng hơn mười năm nay. Bọn trẻ rất thích thú khi được tự tay cho bồ câu ăn, rồi vuốt ve và tạo dáng chụp hình với những chú chim thân thiện.
< Về đêm khu vực Công trường Công xã Paris càng trở nên nhộn nhịp, sinh động.
Dulichgo
Dự kiến vào cuối năm 2015, Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn sẽ được trùng tu nhiều hạng mục đã xuống cấp, hư hỏng như: mái ngói, 2 ngọn tháp, cột, kèo, rui mè, kính, các bức tường bị bôi bẩn phía ngoài...
Theo Sơn Nghĩa, Nguyễn Luân, Trọng Chính (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!
Thứ Tư, 23 tháng 12, 2015
Thăm nghĩa trang cá Ông lớn nhất VN
(PLO) - Ít có địa phương nào ở Nam Bộ lại có mật độ đền thờ cá Ông nhiều như ở Bà Rịa-Vũng Tàu. Dọc bờ biển Bà Rịa-Vũng Tàu có đến 10 ngôi đền thờ cá Ông. Đặc biệt ở làng chài Phước Hải, ngư dân còn dành hẳn một khu đất rộng hàng ngàn mét vuông để chôn cất cá Ông với những nghi lễ trang trọng.
< Nghĩa trang cá Ông ở TT Phước Hải gồm có năm phần: Lăng thờ Lệnh ông Nam Hải đại tướng quân, miếu thờ Quan thế âm Bồ Tát, miếu thờ Thổ công, miếu thờ Thiên quan Tứ phước và khu vực mộ táng cá voi (ảnh Dulichgo).
Nằm sát bờ biển thuộc làng chài Phước Hải, huyện Đất Đỏ, Bà Rịa-Vũng Tàu, Ngọc Lăng Nam Hải được xem là nơi an táng cá Ông lớn nhất Việt Nam hiện nay, nơi có khoảng 100 ngôi mộ cá Ông chưa cải táng.
Nghĩa trang đặc biệt
< Nghĩa trang cá Ông luôn có nhiều ngư dân đến cúng viếng, cầu mong may mắn mỗi lần ra khơi.
Nghĩa trang cá Ông được xây dựng từ năm 1999, nằm cuối làng chài Phước Hải, sát bờ biển. Nghĩa trang rộng khoảng 3.000 m2, cách đền thờ cá Ông của làng khoảng 2 km. Mặc dù tục táng cá Ông diễn ra ở nhiều làng chài Việt Nam nhưng đây có thể xem là nghĩa trang cá Ông “độc nhất vô nhị”.
< Tại nghĩa trang cá Ông hiện có khoảng 100 ngôi mộ cá Ông.
Dulichgo
Làng chài Phước Hải được xem là làng chài tổ chức tang ma, chôn cất cá Ông rất cẩn thận và tập trung vào một chỗ. Bởi lẽ ở những vùng biển khác, ngư dân chỉ chôn cá Ông rải rác xung quanh đền thờ. Hiện nghĩa trang cá Ông có khoảng 100 ngôi mộ chưa cải táng, ngoài ra tại Dinh Ông Nam Hải đang lưu trữ khoảng 400 bộ hài cốt của cá Ông.
< Mỗi khi cá Ông lụy, ngư dân Phước Hải luôn tiếp đón bằng những nghi lễ trang trọng.
Nghĩa trang cá Ông gồm có năm phần: Lăng thờ Lệnh ông Nam Hải đại tướng quân, miếu thờ Quan thế âm Bồ Tát, miếu thờ Thổ công, miếu thờ Thiên quan Tứ phước và khu vực mộ táng cá voi.
Trên đầu các ngôi mộ đều có bát hương và bia đúc xi măng ghi rõ “Nam hải chi mộ” cùng ngày tháng ông “lụy” theo cách gọi của người dân địa phương. Đặc biệt hơn toàn bộ công trình và mộ cá Ông đều có hướng nhìn ra biển.
< Trên đầu các ngôi mộ đều có bát hương và bia đúc xi măng ghi rõ “Nam hải chi mộ” cùng ngày tháng ông “lụy” theo cách gọi của người dân địa phương. Đặc biệt hơn toàn bộ công trình và mộ cá Ông đều có hướng nhìn ra biển.
Vào năm 2006, Lăng thờ Lệnh ông Nam Hải chính thức hoàn thành, trong điện thờ chính có bức di ảnh khổ lớn và tượng ba cá voi nằm song song, hướng ra biển. Theo như tìm hiểu thì có đến bốn loại Ông, đó chính Ông Kiềm, Ông Máng, Ông Chuông và Ông Cậu. Trong đó Ông Kiềm chính là cá voi qua đặc điểm có phần mỏ đưa ra dài, còn ba Ông Máng, Ông Chuông và Ông Cậu thì có phần đầu bằng hơn.
< Hiện nghĩa trang cá Ông có khoảng 100 ngôi mộ chưa cải táng, ngoài ra tại Dinh Ông Nam Hải đang lưu trữ khoảng 400 bộ hài cốt của cá Ông. Tất cả mộ cá Ông và các đền thờ đều hướng ra biển.
Linh thiêng nghĩa trang cá Ông
Dulichgo
Ở nghĩa trang cá Ông có một ngôi Miếu thờ đức Quan thế âm Bồ Tát được xây cất sát mé biển. Có một truyền thuyết thường được ngư dân ở đây truyền tụng nhau kể lại, Phật Quan thế âm Bồ Tát được Thượng đế ban cho chức Nam Hải Bồ Tát để cứu nạn con người trên biển cả. Phật bà xé chiếc áo cà sa làm vạn mảnh thả khắp mặt biển rồi dùng phép màu hóa thành cá ông để cứu giúp thuyền bè gặp nạn, phong cho cá Ông chức Nam Hải Đại vương.
< Lăng thờ Lệnh Ông Nam Hải đại tướng quân được xây dựng khang trang ngay trung tâm nghĩa trang, hằng ngày có nhiều ngư dân đến đây cầu mong sự độ trì từ cá Ông mỗi lần ra khơi.
Điều đó cũng một phần lý giải tại sao người dân ở những làng chài lại có đức tin về sự giúp đỡ của cá Ông, họ coi cá Ông là vị thần hộ mệnh giữa biển khơi. Cá Ông giúp ngư dân vượt qua những hiểm nguy, tai nạn, thậm chí cứu người bị nạn trên biển, đồng thời giúp cho ngư dân có những chuyến đi biển may mắn, tôm cá đầy khoang.
< Trong điện thờ chính có bức di ảnh khổ lớn và tượng ba cá voi nằm song song, hướng ra biển. Theo như tìm hiểu thì có đến bốn loại cá Ông, đó chính Ông Kiềm, Ông Máng, Ông Chuông và Ông Cậu. Hằng ngày, tại Nghĩa trang cá Ông có nhiều ngư dân đến làm lễ cầu mong được nhiều may mắn, tai qua nạn khỏi, cá luôn đầy khoang.
< Năm 2011, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã trao bằng công nhận nơi đây là Nghĩa địa cá Ông lớn nhất Việt Nam.
Ông Nguyễn Văn Được, ngư dân làng chài Phước Hải, cho biết: “Tôi thường xuyên đến nghĩa địa này để thắp hương, cầu khấn mỗi lần chuẩn bị ra khơi. Tôi tin rằng mỗi chuyến đi luôn được cá Ông phù hộ để tai qua nạn khỏi cũng như cá luôn đầy khoang”.
Tại Dinh Ông Nam Hải cũng ở làng chài Phước Hải hiện đang lưu giữ hàng trăm bộ hài cốt cá Ông. Mỗi bộ đều ghi tên chiếc ghe đã có công đưa Ông vào bờ và ngày Ông lụy. Trong số này có bộ cốt cá Ông dài khoảng 3 m, nặng khoảng 2 tạ, được lồng trong một tủ kính riêng. Đây là cá Ông được ngư dân Phước Hải phát hiện cách đây bảy năm.
< Sau ba năm chôn cất sẽ làm lễ cải táng đưa hài cốt cá ông từ lăng về Dinh Ông Nam Hải cách nghĩa trang khoảng 1 km để thờ, nhường đất an táng cho những cá ông khác.
Dulichgo
Khi đó, Ông mắc cạn sát bờ, cả làng tìm cách đưa Ông ra khơi nhưng sóng lại đánh dạt Ông trở lại. Các cao niên trong làng bèn quyết định đưa Ông vào đặt trong Dinh, chờ hai ngày sau Ông trút hơi thở cuối cùng mới tổ chức đám tang.
< Dinh Ông Nam Hải thờ nhiều vị thần, trong đó bàn thờ Ông Nam Hải được đặt ở trung tâm.
Trong dân gian, ngư dân vẫn tin rằng khi Ông lụy thì sẽ có một Ông khác kê lưng dìu vào bờ, sau đó phun lên vòi nước để ngư dân trông thấy đưa đi an táng.
Theo tập tục của ngư dân Phước Hải, khi phát hiện Ông lụy, dù đang đánh bắt ở đâu, ngư dân cũng phải tìm cách đưa Ông vào bờ để làm đám tang. Người phát hiện Ông lụy đầu tiên được xem là trưởng nam, thay mặt dân làng thắt khăn trắng chịu tang, hằng năm cúng giỗ. Sau ba năm đối với cá Ông nhỏ, còn cá Ông lớn thì phải năm năm, dân làng làm lễ Thượng ngọc cốt thỉnh vào Dinh thờ rồi mới được xả tang.
< Tại Dinh còn có một nhà thờ phụng khác nữa, nơi đây lưu trữ hàng trăm hài cốt cá Ông trong tủ kiếng. Theo ông Lê Văn Hời, Trưởng ban nghi lễ Dinh Ông Nam Hải, cho biết: “Số lượng hài cốt cá Ông giờ đây quá nhiều, tủ kiếng đã chật kín. Sắp tới đây, tôi sẽ trình nên các cơ quan, ban, ngành xây dựng một nơi lưu trữ hài cốt của cá Ông tại một nơi mới”.
Dulichgo
Nhiều ngư dân Phước Hải còn truyền miệng nhau những câu chuyện huyền bí và sự linh thiêng của cá Ông. Ông Lê Văn Lợi, Trưởng ban Quản lý Dinh Ông Nam Hải, cho biết: “Trước đây thường có nhiều ngư dân đến đây để xin răng của cá Ông. Họ tin rằng khi có được nó thì khi ra khơi họ sẽ luôn nhận được may mắn và chống được bệnh tật”.
< Trên bệ thờ có một bộ hài cốt cá Ông còn nguyên vẹn bên cạnh là hai tượng cá. Theo người dân địa phương, sở dĩ đúc tượng cá như thế là để con cháu sau này biết khi đi biển lỡ có đánh lưới nhầm cá Ông thì phải nhanh chóng thả Ông về biển.
Hằng năm, cứ vào ngày 16-2 âm lịch, làng chài Phước Hải lại tổ chức lễ nghinh Ông. Còn đối với những người đã từng chịu tang cá Ông sẽ đem lễ vật cúng viếng. Tất cả mọi người từ mọi miền đến đây luôn cầu mong được sự may mắn, độ trì từ cá Ông.
< Dinh Ông Nam Hải không chỉ là nơi an táng, hỏa táng cá Ông mà còn là nơi diễn ra nhiều nghi lễ và các sự kiện quan trọng khác.
Chính vì những điều đặc biệt đó mà năm 2011 Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã trao bằng công nhận nơi đây là Nghĩa địa cá Ông lớn nhất Việt Nam, điều đó làm cho những người như ông Điện luôn cảm thấy tự hào và quý trọng đối với Nghĩa địa cá Ông tại làng chài Phước Hải.
< Việc chôn cất và thờ cúng cá Ông không chỉ là yếu tố tâm linh mà từ lâu đã trở thành một nét đẹp văn hóa của cư dân miền biển trên cả nước.
Dulichgo
Từ một sinh vật khổng lồ sống dưới biển khơi, cá voi được huyền thoại hóa qua chuyện cứu người gặp nạn trên biển và trở thành vật linh thiêng đối với người làm nghề biển ở phía Nam. Việc thờ cá Ông đối với dân vạn chài là trách nhiệm và bổn phận. Họ coi đó như một cách đền ơn đáp nghĩa theo luật nhân quả.
Khi đến nghĩa trang đặc biệt này, người ta như có cảm giác bình an, yên ổn giữa chốn đời thường xô bồ. Sự bình an này vốn dĩ như có sẵn được duy trì từ nhiều đời nay bên làng chài này.
Theo Hữu Nhật – Đức Nam (Báo Pháp Luật TP)
Du lịch, GO!
< Nghĩa trang cá Ông ở TT Phước Hải gồm có năm phần: Lăng thờ Lệnh ông Nam Hải đại tướng quân, miếu thờ Quan thế âm Bồ Tát, miếu thờ Thổ công, miếu thờ Thiên quan Tứ phước và khu vực mộ táng cá voi (ảnh Dulichgo).
Nằm sát bờ biển thuộc làng chài Phước Hải, huyện Đất Đỏ, Bà Rịa-Vũng Tàu, Ngọc Lăng Nam Hải được xem là nơi an táng cá Ông lớn nhất Việt Nam hiện nay, nơi có khoảng 100 ngôi mộ cá Ông chưa cải táng.
Nghĩa trang đặc biệt
< Nghĩa trang cá Ông luôn có nhiều ngư dân đến cúng viếng, cầu mong may mắn mỗi lần ra khơi.
Nghĩa trang cá Ông được xây dựng từ năm 1999, nằm cuối làng chài Phước Hải, sát bờ biển. Nghĩa trang rộng khoảng 3.000 m2, cách đền thờ cá Ông của làng khoảng 2 km. Mặc dù tục táng cá Ông diễn ra ở nhiều làng chài Việt Nam nhưng đây có thể xem là nghĩa trang cá Ông “độc nhất vô nhị”.
< Tại nghĩa trang cá Ông hiện có khoảng 100 ngôi mộ cá Ông.
Dulichgo
Làng chài Phước Hải được xem là làng chài tổ chức tang ma, chôn cất cá Ông rất cẩn thận và tập trung vào một chỗ. Bởi lẽ ở những vùng biển khác, ngư dân chỉ chôn cá Ông rải rác xung quanh đền thờ. Hiện nghĩa trang cá Ông có khoảng 100 ngôi mộ chưa cải táng, ngoài ra tại Dinh Ông Nam Hải đang lưu trữ khoảng 400 bộ hài cốt của cá Ông.
< Mỗi khi cá Ông lụy, ngư dân Phước Hải luôn tiếp đón bằng những nghi lễ trang trọng.
Nghĩa trang cá Ông gồm có năm phần: Lăng thờ Lệnh ông Nam Hải đại tướng quân, miếu thờ Quan thế âm Bồ Tát, miếu thờ Thổ công, miếu thờ Thiên quan Tứ phước và khu vực mộ táng cá voi.
Trên đầu các ngôi mộ đều có bát hương và bia đúc xi măng ghi rõ “Nam hải chi mộ” cùng ngày tháng ông “lụy” theo cách gọi của người dân địa phương. Đặc biệt hơn toàn bộ công trình và mộ cá Ông đều có hướng nhìn ra biển.
< Trên đầu các ngôi mộ đều có bát hương và bia đúc xi măng ghi rõ “Nam hải chi mộ” cùng ngày tháng ông “lụy” theo cách gọi của người dân địa phương. Đặc biệt hơn toàn bộ công trình và mộ cá Ông đều có hướng nhìn ra biển.
Vào năm 2006, Lăng thờ Lệnh ông Nam Hải chính thức hoàn thành, trong điện thờ chính có bức di ảnh khổ lớn và tượng ba cá voi nằm song song, hướng ra biển. Theo như tìm hiểu thì có đến bốn loại Ông, đó chính Ông Kiềm, Ông Máng, Ông Chuông và Ông Cậu. Trong đó Ông Kiềm chính là cá voi qua đặc điểm có phần mỏ đưa ra dài, còn ba Ông Máng, Ông Chuông và Ông Cậu thì có phần đầu bằng hơn.
< Hiện nghĩa trang cá Ông có khoảng 100 ngôi mộ chưa cải táng, ngoài ra tại Dinh Ông Nam Hải đang lưu trữ khoảng 400 bộ hài cốt của cá Ông. Tất cả mộ cá Ông và các đền thờ đều hướng ra biển.
Linh thiêng nghĩa trang cá Ông
Dulichgo
Ở nghĩa trang cá Ông có một ngôi Miếu thờ đức Quan thế âm Bồ Tát được xây cất sát mé biển. Có một truyền thuyết thường được ngư dân ở đây truyền tụng nhau kể lại, Phật Quan thế âm Bồ Tát được Thượng đế ban cho chức Nam Hải Bồ Tát để cứu nạn con người trên biển cả. Phật bà xé chiếc áo cà sa làm vạn mảnh thả khắp mặt biển rồi dùng phép màu hóa thành cá ông để cứu giúp thuyền bè gặp nạn, phong cho cá Ông chức Nam Hải Đại vương.
< Lăng thờ Lệnh Ông Nam Hải đại tướng quân được xây dựng khang trang ngay trung tâm nghĩa trang, hằng ngày có nhiều ngư dân đến đây cầu mong sự độ trì từ cá Ông mỗi lần ra khơi.
Điều đó cũng một phần lý giải tại sao người dân ở những làng chài lại có đức tin về sự giúp đỡ của cá Ông, họ coi cá Ông là vị thần hộ mệnh giữa biển khơi. Cá Ông giúp ngư dân vượt qua những hiểm nguy, tai nạn, thậm chí cứu người bị nạn trên biển, đồng thời giúp cho ngư dân có những chuyến đi biển may mắn, tôm cá đầy khoang.
< Trong điện thờ chính có bức di ảnh khổ lớn và tượng ba cá voi nằm song song, hướng ra biển. Theo như tìm hiểu thì có đến bốn loại cá Ông, đó chính Ông Kiềm, Ông Máng, Ông Chuông và Ông Cậu. Hằng ngày, tại Nghĩa trang cá Ông có nhiều ngư dân đến làm lễ cầu mong được nhiều may mắn, tai qua nạn khỏi, cá luôn đầy khoang.
< Năm 2011, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã trao bằng công nhận nơi đây là Nghĩa địa cá Ông lớn nhất Việt Nam.
Ông Nguyễn Văn Được, ngư dân làng chài Phước Hải, cho biết: “Tôi thường xuyên đến nghĩa địa này để thắp hương, cầu khấn mỗi lần chuẩn bị ra khơi. Tôi tin rằng mỗi chuyến đi luôn được cá Ông phù hộ để tai qua nạn khỏi cũng như cá luôn đầy khoang”.
Tại Dinh Ông Nam Hải cũng ở làng chài Phước Hải hiện đang lưu giữ hàng trăm bộ hài cốt cá Ông. Mỗi bộ đều ghi tên chiếc ghe đã có công đưa Ông vào bờ và ngày Ông lụy. Trong số này có bộ cốt cá Ông dài khoảng 3 m, nặng khoảng 2 tạ, được lồng trong một tủ kính riêng. Đây là cá Ông được ngư dân Phước Hải phát hiện cách đây bảy năm.
< Sau ba năm chôn cất sẽ làm lễ cải táng đưa hài cốt cá ông từ lăng về Dinh Ông Nam Hải cách nghĩa trang khoảng 1 km để thờ, nhường đất an táng cho những cá ông khác.
Dulichgo
Khi đó, Ông mắc cạn sát bờ, cả làng tìm cách đưa Ông ra khơi nhưng sóng lại đánh dạt Ông trở lại. Các cao niên trong làng bèn quyết định đưa Ông vào đặt trong Dinh, chờ hai ngày sau Ông trút hơi thở cuối cùng mới tổ chức đám tang.
< Dinh Ông Nam Hải thờ nhiều vị thần, trong đó bàn thờ Ông Nam Hải được đặt ở trung tâm.
Trong dân gian, ngư dân vẫn tin rằng khi Ông lụy thì sẽ có một Ông khác kê lưng dìu vào bờ, sau đó phun lên vòi nước để ngư dân trông thấy đưa đi an táng.
Theo tập tục của ngư dân Phước Hải, khi phát hiện Ông lụy, dù đang đánh bắt ở đâu, ngư dân cũng phải tìm cách đưa Ông vào bờ để làm đám tang. Người phát hiện Ông lụy đầu tiên được xem là trưởng nam, thay mặt dân làng thắt khăn trắng chịu tang, hằng năm cúng giỗ. Sau ba năm đối với cá Ông nhỏ, còn cá Ông lớn thì phải năm năm, dân làng làm lễ Thượng ngọc cốt thỉnh vào Dinh thờ rồi mới được xả tang.
< Tại Dinh còn có một nhà thờ phụng khác nữa, nơi đây lưu trữ hàng trăm hài cốt cá Ông trong tủ kiếng. Theo ông Lê Văn Hời, Trưởng ban nghi lễ Dinh Ông Nam Hải, cho biết: “Số lượng hài cốt cá Ông giờ đây quá nhiều, tủ kiếng đã chật kín. Sắp tới đây, tôi sẽ trình nên các cơ quan, ban, ngành xây dựng một nơi lưu trữ hài cốt của cá Ông tại một nơi mới”.
Dulichgo
Nhiều ngư dân Phước Hải còn truyền miệng nhau những câu chuyện huyền bí và sự linh thiêng của cá Ông. Ông Lê Văn Lợi, Trưởng ban Quản lý Dinh Ông Nam Hải, cho biết: “Trước đây thường có nhiều ngư dân đến đây để xin răng của cá Ông. Họ tin rằng khi có được nó thì khi ra khơi họ sẽ luôn nhận được may mắn và chống được bệnh tật”.
< Trên bệ thờ có một bộ hài cốt cá Ông còn nguyên vẹn bên cạnh là hai tượng cá. Theo người dân địa phương, sở dĩ đúc tượng cá như thế là để con cháu sau này biết khi đi biển lỡ có đánh lưới nhầm cá Ông thì phải nhanh chóng thả Ông về biển.
Hằng năm, cứ vào ngày 16-2 âm lịch, làng chài Phước Hải lại tổ chức lễ nghinh Ông. Còn đối với những người đã từng chịu tang cá Ông sẽ đem lễ vật cúng viếng. Tất cả mọi người từ mọi miền đến đây luôn cầu mong được sự may mắn, độ trì từ cá Ông.
< Dinh Ông Nam Hải không chỉ là nơi an táng, hỏa táng cá Ông mà còn là nơi diễn ra nhiều nghi lễ và các sự kiện quan trọng khác.
Chính vì những điều đặc biệt đó mà năm 2011 Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã trao bằng công nhận nơi đây là Nghĩa địa cá Ông lớn nhất Việt Nam, điều đó làm cho những người như ông Điện luôn cảm thấy tự hào và quý trọng đối với Nghĩa địa cá Ông tại làng chài Phước Hải.
< Việc chôn cất và thờ cúng cá Ông không chỉ là yếu tố tâm linh mà từ lâu đã trở thành một nét đẹp văn hóa của cư dân miền biển trên cả nước.
Dulichgo
Từ một sinh vật khổng lồ sống dưới biển khơi, cá voi được huyền thoại hóa qua chuyện cứu người gặp nạn trên biển và trở thành vật linh thiêng đối với người làm nghề biển ở phía Nam. Việc thờ cá Ông đối với dân vạn chài là trách nhiệm và bổn phận. Họ coi đó như một cách đền ơn đáp nghĩa theo luật nhân quả.
Khi đến nghĩa trang đặc biệt này, người ta như có cảm giác bình an, yên ổn giữa chốn đời thường xô bồ. Sự bình an này vốn dĩ như có sẵn được duy trì từ nhiều đời nay bên làng chài này.
Theo Hữu Nhật – Đức Nam (Báo Pháp Luật TP)
Du lịch, GO!
Thứ Ba, 22 tháng 12, 2015
Chùa Trần Đăng - Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật
(HNP) - Chùa Trần Đăng toạ lạc tại làng Trần Đăng, xã Hoa Sơn, huyện Ứng Hòa. Đây là một dấu tích vật chất quan trọng minh chứng cho tư tưởng và các hoạt động văn hoá, xã hội khu vực trong một giai đoạn lịch sử của địa phương và của đất nước.
Với những dấu tích kiến trúc và các hiện vật còn lưu giữ được đã góp phần vào việc khẳng định những giá trị văn hoá truyền thống và Phật giáo của địa phương.
Làng Trần Đăng là một ngôi làng cổ kính, nơi lưu giữ nhiều công trình văn hoá của làng quê Việt Nam như: đình, đền, miếu, chùa. Đặc biệt chùa Trần Đăng là ngôi chùa cổ hiện còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể.
Qua việc khảo sát phần nền móng toà Thượng Điện vẫn giữ được diện tích, khuôn viên cổ xưa. Hiện nay, tòa Thượng Điện chùa Trần Đăng có một nhang án đá hoa sen hình hộp chữ nhật dài 2,85m, rộng 1,1m, cao 0,89m nằm ở vị trí gần sát với tường hậu, từ cột cái trong trở vào. Trên nhang án có trang trí hoạ tiết hoa văn mang phong cách nghệ thuật thời Trần.
Dulichgo
Toà Thượng Điện của chùa còn có ngói lợp mũi hài có phong cách tạo tác thế kỷ 17, 18. Bên cạnh nhang án đá người ta cũng đã phát hiện một ít gạch mang hoa văn đao mác thời hậu Lê. Như vậy đây là những cơ sở khẳng định di tích chùa Trần Đăng có niên đại khởi dựng từ trước khi có lần tu sửa lớn vào thời Lê - Mạc. Như vậy có thể đoán định niên đại xây dựng chùa Trần Đăng ít nhất cũng có từ thời Trần.
Công trình kiến trúc hiện tồn tại là kết quả của những lần trùng tu ở triều Nguyễn, với toà Tiền Đường 5 gian 2 chái tường hồi bít đốc tay ngai. Vào năm 1951, nhà chùa và nhân dân đã tiến hành một đợt trùng tu tôn tạo di tích, đảo ngói và sửa sang những cấu kiện bị hư hỏng và xây dựng mới nhà tổ trên nền cũ ở phía sau bằng kinh phí do nhà chùa và nhân dân đóng góp.
Trong toà tiền đường có hệ thống khung gỗ chịu lực được kết cấu bởi 6 bộ vì mái được đỡ bởi hệ thống bốn hàng chân cột, gồm hai hàng cột cái, hai hàng cột quân, được liên kết với nhau bởi hệ thống xà giằng. Toà Thiêu hương gồm 3 bộ mái với kiểu thượng chồng rường, giá chiêng hạ kẻ.
Nhà tổ được xây dựng chủ yếu bằng nguyên liệu sẵn có bấy giờ, như gỗ xoan và tre, gạch xây và ngói lợp được nhà chùa tự làm bằng cách đào đất ở vườn chùa để lấy nguyên liệu làm ngói sau đó nung để lấy ngói và gạch xây nhà tổ. Hiện nay, dấu vết đào ao lấy đất vẫn còn tồn tại và được nhà chùa thả sen làm đẹp cho không gian chùa.
Dulichgo
Người dân làng Trần Đăng ngay từ buổi ban đầu khi dựng chùa đã tìm chọn mảnh đất có đầy đủ những yêu cầu của thuật phong thuỷ. Chùa Trần Đăng được dựng trên một mảnh đất rộng, cao và bằng phẳng nằm giữa làng nơi có dòng nước chảy và cánh đồng lúa xanh tươi bát ngát.
Chùa Trần Đăng được làm quay mặt về hướng Nam. Không phải chỉ bởi ở hướng này có dòng nước mà hướng Nam còn là hướng mà nhà Phật cho là hướng trong sáng, hướng của trí tuệ (hướng Bát Nhã) mà đạo Phật lấy trí tuệ để diệt trừ sự ngu tối, tức mầm mống tội ác…
Chùa Trần Đăng đã ứng với thế linh địa, đã hội đủ các yếu tố theo chuẩn mực của thuyết phong thuỷ, quan niệm âm dương, xứng đáng là nơi dân làng ngưỡng vọng, thể hiện lòng thành kính của mình với đức Phật, cầu mong Phật chở che, ban phúc lâu dài.
Gác chuông của chùa nằm ở khu vực Tam quan, là một đơn nguyên kiến trúc một gian hai chái, chống cổ diên hai tầng tám mái, tầng trên có treo quả chuông “Duyên Phúc Tự Chung”. Trải qua thời gian nắng mưa huỷ hoại, mối mọt xâm thực, hiện nay, tam quan không còn giữ nguyên như từ ngày khởi dựng mà đã trải qua nhiều lần trùng tu tu sửa, dấu vết hiện nay còn tích tụ qua nhiều mảng chạm khắc mang phong cách của các thời kỳ khác nhau.
Dulichgo
Ngoài ra, chùa còn có phần Thượng điện, là hạng mục kiến trúc có ba gian, tường hồi bít đốc tay ngai. Phần nhà mẫu nằm ở phía sau công trình chính là hạng mục mới được tôn tạo năm 2011. Có thể nói chùa Trần Đăng là một trong số ít những di tích kiến trúc gỗ có lịch sử tồn tại hàng trăm năm. Hơn thế nữa, di tích còn bảo tồn được khá đầy đủ các thành phần hạng mục kiến trúc, trang trí kiến trúc của một ngôi chùa cổ.
Theo Đoàn Nguyên (Hà Nội Portal)
Du lịch, GO!
Với những dấu tích kiến trúc và các hiện vật còn lưu giữ được đã góp phần vào việc khẳng định những giá trị văn hoá truyền thống và Phật giáo của địa phương.
Làng Trần Đăng là một ngôi làng cổ kính, nơi lưu giữ nhiều công trình văn hoá của làng quê Việt Nam như: đình, đền, miếu, chùa. Đặc biệt chùa Trần Đăng là ngôi chùa cổ hiện còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể.
Qua việc khảo sát phần nền móng toà Thượng Điện vẫn giữ được diện tích, khuôn viên cổ xưa. Hiện nay, tòa Thượng Điện chùa Trần Đăng có một nhang án đá hoa sen hình hộp chữ nhật dài 2,85m, rộng 1,1m, cao 0,89m nằm ở vị trí gần sát với tường hậu, từ cột cái trong trở vào. Trên nhang án có trang trí hoạ tiết hoa văn mang phong cách nghệ thuật thời Trần.
Dulichgo
Toà Thượng Điện của chùa còn có ngói lợp mũi hài có phong cách tạo tác thế kỷ 17, 18. Bên cạnh nhang án đá người ta cũng đã phát hiện một ít gạch mang hoa văn đao mác thời hậu Lê. Như vậy đây là những cơ sở khẳng định di tích chùa Trần Đăng có niên đại khởi dựng từ trước khi có lần tu sửa lớn vào thời Lê - Mạc. Như vậy có thể đoán định niên đại xây dựng chùa Trần Đăng ít nhất cũng có từ thời Trần.
Công trình kiến trúc hiện tồn tại là kết quả của những lần trùng tu ở triều Nguyễn, với toà Tiền Đường 5 gian 2 chái tường hồi bít đốc tay ngai. Vào năm 1951, nhà chùa và nhân dân đã tiến hành một đợt trùng tu tôn tạo di tích, đảo ngói và sửa sang những cấu kiện bị hư hỏng và xây dựng mới nhà tổ trên nền cũ ở phía sau bằng kinh phí do nhà chùa và nhân dân đóng góp.
Trong toà tiền đường có hệ thống khung gỗ chịu lực được kết cấu bởi 6 bộ vì mái được đỡ bởi hệ thống bốn hàng chân cột, gồm hai hàng cột cái, hai hàng cột quân, được liên kết với nhau bởi hệ thống xà giằng. Toà Thiêu hương gồm 3 bộ mái với kiểu thượng chồng rường, giá chiêng hạ kẻ.
Nhà tổ được xây dựng chủ yếu bằng nguyên liệu sẵn có bấy giờ, như gỗ xoan và tre, gạch xây và ngói lợp được nhà chùa tự làm bằng cách đào đất ở vườn chùa để lấy nguyên liệu làm ngói sau đó nung để lấy ngói và gạch xây nhà tổ. Hiện nay, dấu vết đào ao lấy đất vẫn còn tồn tại và được nhà chùa thả sen làm đẹp cho không gian chùa.
Dulichgo
Người dân làng Trần Đăng ngay từ buổi ban đầu khi dựng chùa đã tìm chọn mảnh đất có đầy đủ những yêu cầu của thuật phong thuỷ. Chùa Trần Đăng được dựng trên một mảnh đất rộng, cao và bằng phẳng nằm giữa làng nơi có dòng nước chảy và cánh đồng lúa xanh tươi bát ngát.
Chùa Trần Đăng được làm quay mặt về hướng Nam. Không phải chỉ bởi ở hướng này có dòng nước mà hướng Nam còn là hướng mà nhà Phật cho là hướng trong sáng, hướng của trí tuệ (hướng Bát Nhã) mà đạo Phật lấy trí tuệ để diệt trừ sự ngu tối, tức mầm mống tội ác…Chùa Trần Đăng đã ứng với thế linh địa, đã hội đủ các yếu tố theo chuẩn mực của thuyết phong thuỷ, quan niệm âm dương, xứng đáng là nơi dân làng ngưỡng vọng, thể hiện lòng thành kính của mình với đức Phật, cầu mong Phật chở che, ban phúc lâu dài.
Gác chuông của chùa nằm ở khu vực Tam quan, là một đơn nguyên kiến trúc một gian hai chái, chống cổ diên hai tầng tám mái, tầng trên có treo quả chuông “Duyên Phúc Tự Chung”. Trải qua thời gian nắng mưa huỷ hoại, mối mọt xâm thực, hiện nay, tam quan không còn giữ nguyên như từ ngày khởi dựng mà đã trải qua nhiều lần trùng tu tu sửa, dấu vết hiện nay còn tích tụ qua nhiều mảng chạm khắc mang phong cách của các thời kỳ khác nhau. Dulichgo
Ngoài ra, chùa còn có phần Thượng điện, là hạng mục kiến trúc có ba gian, tường hồi bít đốc tay ngai. Phần nhà mẫu nằm ở phía sau công trình chính là hạng mục mới được tôn tạo năm 2011. Có thể nói chùa Trần Đăng là một trong số ít những di tích kiến trúc gỗ có lịch sử tồn tại hàng trăm năm. Hơn thế nữa, di tích còn bảo tồn được khá đầy đủ các thành phần hạng mục kiến trúc, trang trí kiến trúc của một ngôi chùa cổ.
Theo Đoàn Nguyên (Hà Nội Portal)
Du lịch, GO!
Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015
Thạch Động tự ở xứ Quảng
Thạch Động tự (chùa Hang) nằm trong một hang đá tự nhiên ẩn mình trong núi Hòn Bà ở thôn An Thiện, xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, cách thị trấn Núi Thành 2,5km theo đường chim bay. Đây là một di tích gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng của tỉnh Quảng Nam.
Từ chân núi muốn lên được chùa Hang phải leo gần 3km. Xung quanh chùa bao bọc bởi nhiều cây rừng rậm rạp, xa khu dân cư nên nơi đây rất thanh tịnh, ít người lui tới. Chùa không rộng lắm, sân trước rộng khoảng 30m2 được trồng nhiều loại cây ăn quả như ổi, mít, xoài, mận... Giữa sân có một bệ thờ lớn. Vào chùa phải qua một chiếc cổng được xây dựng khá đơn giản, bên trên cổng đắp nổi các chữ “Thạch Động tự”, nghĩa là chùa (trong) hang đá.
Theo truyền thuyết dân gian và theo các vị cao niên trong vùng thì trước kia nơi này là một vùng đồi núi còn hoang sơ, rậm rạp. Một nhà sư không rõ danh tính, quê quán, trên đường đi khất thực ngang qua nơi đây, thấy phong cảnh hữu tình, cảnh quan thanh vắng nên đã dừng lại tìm chỗ dựng chùa để tu hành. Nơi ông lập chùa là một hang đá tự nhiên nằm ẩn mình trong núi. Từ đó nhân dân trong vùng gọi ngôi chùa do nhà sư lập nên là chùa Hang và tên gọi này vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
Thạch Động tự nằm sát chân núi Hòn Bà, phía sau chùa là một tảng đá tựa như hình con heo, đứng xa hàng chục cây số ta vẫn thấy được ngọn núi này; dựa vào hình dáng dân địa phương gọi là núi Con Heo, hay còn gọi là núi Hòn Bà. Gọi là “chùa”, nhưng chỉ là một tảng đá to, nhìn từ xa tựa như một chiếc thúng úp ngược, phía trước tảng đá có một cái ngõ rộng đủ để 2 người ra vào, cửa hang quay ra hướng Đông Bắc hứng những cơn gió biển dịu mát vào những ngày hè.
Dulichgo
Hang có dạng hình thang, chính giữa là một bệ thờ lớn được xây trên một tảng đá tự nhiên rộng và tương đối bằng phẳng. Bên phải hang có 5 bàn thờ và bên trái có 2 bàn thờ. Tất cả đều được đặt trên các bệ đá phẳng mà thiên nhiên đã vô tình tạo nên. Gần các bàn thờ bên phải có một vũng nhỏ lõm sâu gọi là giếng nước nhỏ, đường kính miệng giếng độ 0,4m, sâu chừng hơn 0,6m và đặc biệt là luôn chứa đầy nước quanh năm.
Theo các vị cao niên sinh sống dưới chân núi Hòn Bà thì xưa kia khu vực xung quanh chùa, cây cối um tùm, nhiều cây sống hàng trăm năm tuổi, như cây cốc, cây xoài, cây sơn, cây lim, cây gõ và đủ loại thú rừng, chim muông. Phía Đông và Đông Bắc, cách chân núi chừng 500 mét là vùng cát trắng chạy đến tận biển Rạng, tuy bờ biển cách xa hàng chục cây số nhưng đứng trên hang đá hướng tầm mắt về phía biển vẫn thấy thuyền buồm, tàu cá. Phía Tây và Tây Nam là núi rừng bao la, dưới chân núi là cánh đồng lúa mênh mông, xanh mướt ngút ngàn và khu vực dân cư.
Thời vua Quang Trung, khu vực dân cư nơi đây vẫn còn là đất hoang vắng, chỉ rừng núi, người ở rất thưa thớt, sống từng nhóm nhỏ gọi là xóm với những địa danh đã đi vào dĩ vãng như Kẻ Thá (nay là thôn An Thiện); Đồng Cũ (nay là thôn Hòa Mỹ); Ngòi Ve (nay là thôn Long Phú); Bù Nhum (nay là thôn Đông Yên)… Đến thời vua Minh Mạng (1820) chính quyền sáp nhập các xóm lại thành làng, gọi là làng Bình Yên Trung Nội (nay là xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành)…Dulichgo
Ngoài ra, chùa Hang được người ta biết đến nhiều và gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng của tỉnh Quảng Nam khi nơi đây được chọn làm địa điểm để tổ chức một hội nghị quan trọng, có ý nghĩa lịch sử không những đối với tỉnh Quảng Nam mà còn đối với cả Xứ ủy Trung Kỳ trong những năm trước Cách mạng tháng Tám - 1945. Do nằm ở địa điểm cheo leo, hiểm trở, ít người qua lại nên tháng 11-1940, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy, một Hội nghị Tỉnh ủy Quảng Nam mở rộng được tổ chức tại Chùa Hang một cách bí mật và an toàn tuyệt đối.
Hiện nay, chùa Hang là nơi có phong cảnh hữu tình với núi rừng bao quanh và có nhiều hang đá, dốc đèo trông rất ngoạn mục. Chùa Hang cũng đã được UBND tỉnh Quảng Nam xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2005.
Theo Hồng Lâm (báo Đà Nẵng)
Du lịch, GO!
Từ chân núi muốn lên được chùa Hang phải leo gần 3km. Xung quanh chùa bao bọc bởi nhiều cây rừng rậm rạp, xa khu dân cư nên nơi đây rất thanh tịnh, ít người lui tới. Chùa không rộng lắm, sân trước rộng khoảng 30m2 được trồng nhiều loại cây ăn quả như ổi, mít, xoài, mận... Giữa sân có một bệ thờ lớn. Vào chùa phải qua một chiếc cổng được xây dựng khá đơn giản, bên trên cổng đắp nổi các chữ “Thạch Động tự”, nghĩa là chùa (trong) hang đá.
Theo truyền thuyết dân gian và theo các vị cao niên trong vùng thì trước kia nơi này là một vùng đồi núi còn hoang sơ, rậm rạp. Một nhà sư không rõ danh tính, quê quán, trên đường đi khất thực ngang qua nơi đây, thấy phong cảnh hữu tình, cảnh quan thanh vắng nên đã dừng lại tìm chỗ dựng chùa để tu hành. Nơi ông lập chùa là một hang đá tự nhiên nằm ẩn mình trong núi. Từ đó nhân dân trong vùng gọi ngôi chùa do nhà sư lập nên là chùa Hang và tên gọi này vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
Thạch Động tự nằm sát chân núi Hòn Bà, phía sau chùa là một tảng đá tựa như hình con heo, đứng xa hàng chục cây số ta vẫn thấy được ngọn núi này; dựa vào hình dáng dân địa phương gọi là núi Con Heo, hay còn gọi là núi Hòn Bà. Gọi là “chùa”, nhưng chỉ là một tảng đá to, nhìn từ xa tựa như một chiếc thúng úp ngược, phía trước tảng đá có một cái ngõ rộng đủ để 2 người ra vào, cửa hang quay ra hướng Đông Bắc hứng những cơn gió biển dịu mát vào những ngày hè.
Dulichgo
Hang có dạng hình thang, chính giữa là một bệ thờ lớn được xây trên một tảng đá tự nhiên rộng và tương đối bằng phẳng. Bên phải hang có 5 bàn thờ và bên trái có 2 bàn thờ. Tất cả đều được đặt trên các bệ đá phẳng mà thiên nhiên đã vô tình tạo nên. Gần các bàn thờ bên phải có một vũng nhỏ lõm sâu gọi là giếng nước nhỏ, đường kính miệng giếng độ 0,4m, sâu chừng hơn 0,6m và đặc biệt là luôn chứa đầy nước quanh năm.
Theo các vị cao niên sinh sống dưới chân núi Hòn Bà thì xưa kia khu vực xung quanh chùa, cây cối um tùm, nhiều cây sống hàng trăm năm tuổi, như cây cốc, cây xoài, cây sơn, cây lim, cây gõ và đủ loại thú rừng, chim muông. Phía Đông và Đông Bắc, cách chân núi chừng 500 mét là vùng cát trắng chạy đến tận biển Rạng, tuy bờ biển cách xa hàng chục cây số nhưng đứng trên hang đá hướng tầm mắt về phía biển vẫn thấy thuyền buồm, tàu cá. Phía Tây và Tây Nam là núi rừng bao la, dưới chân núi là cánh đồng lúa mênh mông, xanh mướt ngút ngàn và khu vực dân cư.
Thời vua Quang Trung, khu vực dân cư nơi đây vẫn còn là đất hoang vắng, chỉ rừng núi, người ở rất thưa thớt, sống từng nhóm nhỏ gọi là xóm với những địa danh đã đi vào dĩ vãng như Kẻ Thá (nay là thôn An Thiện); Đồng Cũ (nay là thôn Hòa Mỹ); Ngòi Ve (nay là thôn Long Phú); Bù Nhum (nay là thôn Đông Yên)… Đến thời vua Minh Mạng (1820) chính quyền sáp nhập các xóm lại thành làng, gọi là làng Bình Yên Trung Nội (nay là xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành)…Dulichgo
Ngoài ra, chùa Hang được người ta biết đến nhiều và gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng của tỉnh Quảng Nam khi nơi đây được chọn làm địa điểm để tổ chức một hội nghị quan trọng, có ý nghĩa lịch sử không những đối với tỉnh Quảng Nam mà còn đối với cả Xứ ủy Trung Kỳ trong những năm trước Cách mạng tháng Tám - 1945. Do nằm ở địa điểm cheo leo, hiểm trở, ít người qua lại nên tháng 11-1940, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy, một Hội nghị Tỉnh ủy Quảng Nam mở rộng được tổ chức tại Chùa Hang một cách bí mật và an toàn tuyệt đối.
Hiện nay, chùa Hang là nơi có phong cảnh hữu tình với núi rừng bao quanh và có nhiều hang đá, dốc đèo trông rất ngoạn mục. Chùa Hang cũng đã được UBND tỉnh Quảng Nam xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2005.
Theo Hồng Lâm (báo Đà Nẵng)
Du lịch, GO!
Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015
Di tích Lăng Tứ Kiệt
Tứ Kiệt là cách gọi tôn kính của nhân dân đối với bốn vị anh hùng lãnh đạo nhân dân chống Pháp từ năm 1868 – 1870. Ðó là các ông: Trần Công Thận, Nguyễn Thanh Long, Ngô Tấn Ðước và Trương Văn Rộng.
Tứ Kiệt chống Tây
Thời kỳ khẩn hoang và những năm thế kỷ XVIII, XIX, đầu thế kỷ XX, Đồng bằng sông Cửu Long về địa lý được phân chia thành hai khu vực: miệt Tiền Giang và miệt Hậu Giang. Các tỉnh thuộc miệt Tiền Giang gồm có Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An ngày nay. Các tỉnh thuộc miệt Hậu Giang nằm dọc bờ hữu ngạn sông Hậu đến giáp biển Tây (vịnh Thái Lan) gồm các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang.
Sau khi Pháp chính thức nổ súng xâm lược nước ta năm 1858, phong trào chống Pháp nổi lên mạnh mẽ khắp nơi và những cuộc khởi nghĩa chống Pháp đầu tiên ở Nam bộ phần lớn diễn ra trên vùng đất Tiền Giang, như: khởi nghĩa Trương Định (Gò Công), Thủ Khoa Huân (Mỹ Tho), Võ Duy Dương (Đồng Tháp Mười)… về sau lan qua miệt Hậu Giang với Nguyễn Trung Trực (Kiên Giang), Trần Văn Thành (An Giang), Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự (Cà Mau), Đinh Sâm (Cần Thơ)…
Dulichgo
Ở huyện Cai Lậy thuộc tỉnh Định Tường năm 1861 có "Tứ Kiệt" nổi lên khởi nghĩa đánh Tây quyết liệt và dũng cảm. Đó là những anh hùng nông dân chân đất đầu trần, xuất thân từ các đồn điền. Theo tiểu sử được ghi ở bia ký Lăng Tứ Kiệt, bốn ông gồm:
- Trần Công Thận:(? - 1871) tự là Phượng, người ở xóm Võng, làng Mỹ Trang, nay thuộc ấp Mỹ Phú, xã Long Khánh, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Ông là người chỉ huy, tổ chức cuộc nổi dậy, nên nhân dân gọi tôn là Ngươn soái Thận.
- Nguyễn Thanh Long: (1820 - 1871) còn gọi là Đề Long, người ở ấp Cẩm Hòa, xã Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Ông là người tham mưu, đề ra các kế sách cho nghĩa quân.
- Ngô Tấn Đước: (? - 1871) người ở xã Tân Hội, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Trương Văn Rộng: (? - 1871) người ở xã Tân Lý Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
"Tứ Kiệt", theo cách gọi dân gian là "Bốn Ông Cai Lậy", tham gia cuộc khởi nghĩa do Thiên Hộ Võ Duy Dương khởi xướng và lãnh đạo ở vùng Cai Lậy, Cái Bè, Thuộc Nhiêu, Đồng Tháp Mười… góp phần tạo nên những chiến thắng oai hùng. Trong những chiến công của nghĩa quân Tứ Kiệt, có hai trận đánh được xem là oanh liệt, tiêu biểu nhất. Đó là cuộc tấn công vào thành Mỹ Tho và trận thiêu hủy đồn Cai Lậy.
Do đã từng kinh qua chiến trận và rất có kinh nghiệm với lối đánh du kích, nên dù vũ trang thô sơ, Bốn Ông đã chủ động tấn công quân Pháp, làm cho chúng chịu nhiều tổn thất. Khuya 1-5-1868, nghĩa quân bí mật đột kích vào thành Mỹ Tho đốt kho lương, giết được một số tên giặc. Đêm Giáng sinh 24-12-1870 nghĩa quân tấn công, thiêu hủy đồn Cai Lậy và dinh Tham biện. Hai chiến thắng này giúp tiếng tăm nghĩa quân Tứ Kiệt ngày càng lừng lẫy, chiêu mộ thêm nhiều nghĩa sĩ, liên tiếp lập nhiều chiến công ở Mỹ Quí, Cái Bè và Thuộc Nhiêu…
Dulichgo
Cuộc khởi nghĩa của Tứ Kiệt về sau đành chịu thất bại trước sự bao vây và đàn áp dã man của quân xâm lược Pháp. Trong một trận càn quét quy mô có sự tham gia của Tổng Đốc Trần Bá Lộc, Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương - những tên tay sai cực kỳ gian ác và xảo quyệt, Tứ Kiệt cùng 150 nghĩa quân bị bắt.
Ngày 14-02-1871 (nhằm ngày 25 tháng Chạp năm Canh Ngọ), giặc đưa Tứ Kiệt ra pháp trường hành quyết, bêu đầu ở chợ Cai Lậy nhằm uy hiếp tinh thần của dân chúng, sau đó vùi dập ở bến sông cạnh chợ. Thân nhân gia đình chỉ mang thân mình các ông về quê nhà, gắn chiếc đầu giả làm bằng đất sét vào chôn cất.
Lăng Tứ Kiệt ngày nay
Kính phục, cảm kích trước sự hy sinh oanh liệt vì đất nước của bốn vị anh hùng, nhân dân Cai Lậy đã bí mật mang thủ cấp của bốn ông an táng và đắp mộ, hương khói trang nghiêm. Ban đầu, ngôi mộ bằng đất, xung quanh có hàng rào bằng cau sơn vôi trắng. Đến năm 1954, nhân dân Cai Lậy xây dựng lại ngôi miếu và bốn ngôi mộ tượng trưng bằng xi măng song song, gần sát nhau, xung quanh có hàng rào sắt kiên cố ngay trên mảnh đất cũ. Khu vực này gọi là lăng Tứ Kiệt. Năm 1967, nhân dân Cai Lậy tiến hành trùng tu ngôi miếu và khu mộ qui mô hơn, trong có miếu thờ ngoài có nhà khách. Huyền thoại về Bốn ông được lan truyền khắp Tiền Giang và các vùng phụ cận.
Lăng Tứ Kiệt hiện nay gồm hai phần:
Nhà tưởng niệm rộng hơn 100 mét vuông với 2 lớp mái cong chạm rồng. Bên trong nổi bật là 4 hàng cột đỡ mái với 16 cây cột chạm rồng tinh vi. Nhà tưởng niệm bày biện trang nghiêm với bàn thờ Tứ Kiệt anh linh, lư hương, bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa... Hai bên, ngoài hai giá binh khí xưa còn có cặp hạc cưỡi qui bằng gỗ, chạm tinh xảo.
Dulichgo
Nhà lăng phía sau chỉ có một lớp mái cong chạm rồng. Bên trong là 4 cây cột đỡ mái chạm rồng. Bốn ngôi mộ đều được dán bằng đá granite màu gạch tôm sẫm.
Tại Lăng Tứ Kiệt, hàng năm vào ngày 25 tháng Chạp âm lịch, nhân dân Cai Lậy tụ tập đông đúc tảo mộ và làm giỗ trang trọng, thành kính tưởng nhớ đến Tứ Kiệt vì nước quên mình, vì dân giết giặc, nêu tấm gương dũng liệt sáng ngời cho hậu thế. Năm 1998, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Tiền Giang kết hợp với Ủy ban nhân dân huyện Cai Lậy trùng tu toàn diện khu lăng mộ Tứ Kiệt, tương xứng với tầm vóc và khí phách anh hùng của bốn ông đúng như hai câu đối được chạm khắc tại cổng:
Tứ vị anh hùng vị quốc hy sinh vĩnh niệm,
Kiệt nhân nghĩa cử tinh thần bất khuất lưu tồn.
Lăng Tứ Kiệt ở Cai Lậy (Tiền Giang) được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định 61 QĐ/BT ngày 13-9-1999.
Đến với Lăng Tứ Kiệt ở Cai Lậy, hiện tọa lạc tại đường 30-4, thị trấn Cai Lậy, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nhân dân và khách tham quan sẽ cảm nhận được hào khí anh hùng, dấu xưa oanh liệt của những anh hùng nông dân bất khuất của đất Tiền Giang nói riêng, của Nam bộ nói chung trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược vào những năm giữa, cận cuối thế kỷ XIX.
Theo Anh Việt (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!
Tứ Kiệt chống Tây
Thời kỳ khẩn hoang và những năm thế kỷ XVIII, XIX, đầu thế kỷ XX, Đồng bằng sông Cửu Long về địa lý được phân chia thành hai khu vực: miệt Tiền Giang và miệt Hậu Giang. Các tỉnh thuộc miệt Tiền Giang gồm có Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An ngày nay. Các tỉnh thuộc miệt Hậu Giang nằm dọc bờ hữu ngạn sông Hậu đến giáp biển Tây (vịnh Thái Lan) gồm các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang.
Sau khi Pháp chính thức nổ súng xâm lược nước ta năm 1858, phong trào chống Pháp nổi lên mạnh mẽ khắp nơi và những cuộc khởi nghĩa chống Pháp đầu tiên ở Nam bộ phần lớn diễn ra trên vùng đất Tiền Giang, như: khởi nghĩa Trương Định (Gò Công), Thủ Khoa Huân (Mỹ Tho), Võ Duy Dương (Đồng Tháp Mười)… về sau lan qua miệt Hậu Giang với Nguyễn Trung Trực (Kiên Giang), Trần Văn Thành (An Giang), Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự (Cà Mau), Đinh Sâm (Cần Thơ)…
Dulichgo
Ở huyện Cai Lậy thuộc tỉnh Định Tường năm 1861 có "Tứ Kiệt" nổi lên khởi nghĩa đánh Tây quyết liệt và dũng cảm. Đó là những anh hùng nông dân chân đất đầu trần, xuất thân từ các đồn điền. Theo tiểu sử được ghi ở bia ký Lăng Tứ Kiệt, bốn ông gồm:
- Trần Công Thận:(? - 1871) tự là Phượng, người ở xóm Võng, làng Mỹ Trang, nay thuộc ấp Mỹ Phú, xã Long Khánh, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Ông là người chỉ huy, tổ chức cuộc nổi dậy, nên nhân dân gọi tôn là Ngươn soái Thận.
- Nguyễn Thanh Long: (1820 - 1871) còn gọi là Đề Long, người ở ấp Cẩm Hòa, xã Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Ông là người tham mưu, đề ra các kế sách cho nghĩa quân.
- Ngô Tấn Đước: (? - 1871) người ở xã Tân Hội, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Trương Văn Rộng: (? - 1871) người ở xã Tân Lý Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
"Tứ Kiệt", theo cách gọi dân gian là "Bốn Ông Cai Lậy", tham gia cuộc khởi nghĩa do Thiên Hộ Võ Duy Dương khởi xướng và lãnh đạo ở vùng Cai Lậy, Cái Bè, Thuộc Nhiêu, Đồng Tháp Mười… góp phần tạo nên những chiến thắng oai hùng. Trong những chiến công của nghĩa quân Tứ Kiệt, có hai trận đánh được xem là oanh liệt, tiêu biểu nhất. Đó là cuộc tấn công vào thành Mỹ Tho và trận thiêu hủy đồn Cai Lậy.
Do đã từng kinh qua chiến trận và rất có kinh nghiệm với lối đánh du kích, nên dù vũ trang thô sơ, Bốn Ông đã chủ động tấn công quân Pháp, làm cho chúng chịu nhiều tổn thất. Khuya 1-5-1868, nghĩa quân bí mật đột kích vào thành Mỹ Tho đốt kho lương, giết được một số tên giặc. Đêm Giáng sinh 24-12-1870 nghĩa quân tấn công, thiêu hủy đồn Cai Lậy và dinh Tham biện. Hai chiến thắng này giúp tiếng tăm nghĩa quân Tứ Kiệt ngày càng lừng lẫy, chiêu mộ thêm nhiều nghĩa sĩ, liên tiếp lập nhiều chiến công ở Mỹ Quí, Cái Bè và Thuộc Nhiêu…
Dulichgo
Cuộc khởi nghĩa của Tứ Kiệt về sau đành chịu thất bại trước sự bao vây và đàn áp dã man của quân xâm lược Pháp. Trong một trận càn quét quy mô có sự tham gia của Tổng Đốc Trần Bá Lộc, Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương - những tên tay sai cực kỳ gian ác và xảo quyệt, Tứ Kiệt cùng 150 nghĩa quân bị bắt.
Ngày 14-02-1871 (nhằm ngày 25 tháng Chạp năm Canh Ngọ), giặc đưa Tứ Kiệt ra pháp trường hành quyết, bêu đầu ở chợ Cai Lậy nhằm uy hiếp tinh thần của dân chúng, sau đó vùi dập ở bến sông cạnh chợ. Thân nhân gia đình chỉ mang thân mình các ông về quê nhà, gắn chiếc đầu giả làm bằng đất sét vào chôn cất.
Lăng Tứ Kiệt ngày nay
Kính phục, cảm kích trước sự hy sinh oanh liệt vì đất nước của bốn vị anh hùng, nhân dân Cai Lậy đã bí mật mang thủ cấp của bốn ông an táng và đắp mộ, hương khói trang nghiêm. Ban đầu, ngôi mộ bằng đất, xung quanh có hàng rào bằng cau sơn vôi trắng. Đến năm 1954, nhân dân Cai Lậy xây dựng lại ngôi miếu và bốn ngôi mộ tượng trưng bằng xi măng song song, gần sát nhau, xung quanh có hàng rào sắt kiên cố ngay trên mảnh đất cũ. Khu vực này gọi là lăng Tứ Kiệt. Năm 1967, nhân dân Cai Lậy tiến hành trùng tu ngôi miếu và khu mộ qui mô hơn, trong có miếu thờ ngoài có nhà khách. Huyền thoại về Bốn ông được lan truyền khắp Tiền Giang và các vùng phụ cận.
Lăng Tứ Kiệt hiện nay gồm hai phần:
Dulichgo
Nhà lăng phía sau chỉ có một lớp mái cong chạm rồng. Bên trong là 4 cây cột đỡ mái chạm rồng. Bốn ngôi mộ đều được dán bằng đá granite màu gạch tôm sẫm.
Tại Lăng Tứ Kiệt, hàng năm vào ngày 25 tháng Chạp âm lịch, nhân dân Cai Lậy tụ tập đông đúc tảo mộ và làm giỗ trang trọng, thành kính tưởng nhớ đến Tứ Kiệt vì nước quên mình, vì dân giết giặc, nêu tấm gương dũng liệt sáng ngời cho hậu thế. Năm 1998, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Tiền Giang kết hợp với Ủy ban nhân dân huyện Cai Lậy trùng tu toàn diện khu lăng mộ Tứ Kiệt, tương xứng với tầm vóc và khí phách anh hùng của bốn ông đúng như hai câu đối được chạm khắc tại cổng:
Tứ vị anh hùng vị quốc hy sinh vĩnh niệm,Kiệt nhân nghĩa cử tinh thần bất khuất lưu tồn.
Lăng Tứ Kiệt ở Cai Lậy (Tiền Giang) được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định 61 QĐ/BT ngày 13-9-1999.
Đến với Lăng Tứ Kiệt ở Cai Lậy, hiện tọa lạc tại đường 30-4, thị trấn Cai Lậy, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nhân dân và khách tham quan sẽ cảm nhận được hào khí anh hùng, dấu xưa oanh liệt của những anh hùng nông dân bất khuất của đất Tiền Giang nói riêng, của Nam bộ nói chung trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược vào những năm giữa, cận cuối thế kỷ XIX.
Theo Anh Việt (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)







































