Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

Ăn cháo hàu ở Quán Hàu

(TN0) - Có dịp đi qua mời bạn dừng chân ghé thưởng thức vị thơm, béo và ngọt mát của con hàu ở Quán Hàu - trung tâm huyện lỵ của huyện Quảng Ninh, Quảng Bình.

Từ lâu miền đất đã nổi danh với nhiều món ăn được chế biến từ con hàu lấy từ sông Nhật Lệ. Điều đặc biệt, cũng trên con sông này nhưng hàu ở những khúc sông khác không nhiều và không thể ngon bằng hàu ở đoạn qua thị trấn này. Vì thế mới có chuyện người ta mang hàu nơi khác về ngâm nước trên đoạn sông này *.


< Chuẩn bị lặn bắt hàu.

Một số người cố gắng lý giải nhưng lời đáp vẫn còn bí ẩn! Có lẽ bởi vì nơi đó là điểm giao thoa, hòa quyện giữa hai con nước mặn và ngọt như sự kết duyên của một tình yêu đẹp. Hàu bám chặt, sinh sôi trên những bãi đá rộng lớn và các chân trụ cầu cũ nát.

Thời điểm này đang vào mùa, hàu rất nhiều và chắc thịt. Hàu có thể chế biến nhiều món ngon khác nhau như nấu cháo gạo, xào với hành kẹp bánh tráng ăn hoặc nấu canh chua, canh rau tùy theo sở thích từng người. Riêng món cháo được nhiều người thích nhất, người ra Bắc vào Nam thường ghé Quán Hàu, nơi luôn có món này.

Hàu được xào um sẵn với gia vị như hành, ớt, tiêu cùng một ít muối, bột ngọt đủ vừa thấm; khi có khách gọi thì chủ quán sẽ lấy cháo ở nồi khác theo số lượng người ăn để một nồi riêng gia thêm lửa sau đó bỏ hàu vào, nêm thêm nước và các loại gia vị cho vừa là có một tô cháo hàu ngọt lịm. Cảm giác cắn con hàu to béo nghe đánh cái "phụp" trong miệng mới thật đã.

Một tô đặc quánh hàu (có người đùa là hàu cháo chứ không phải cháo hàu) chỉ 15 nghìn đồng. Nếu khách không muốn ăn cháo theo kiểu um sẵn trên thì chịu khó đợi nấu theo kiểu hàu còn sống tươi, mang ra ướp gia vị rồi mới cho lên nồi cháo gạo đang sôi. Như thế ngon thơm hơn nhưng mất thời gian một chút.
Xem thêm >

Theo Trương Quang Nam (báo Thanh Niên)


* Có năm hàu không sinh sản (ví dụ năm 2012), vậy nên khách về Quán Hàu muốn ăn thì chỉ có hàu từ Huế chở ra. Quán ăn có thể không nói thật là hàu Huế nhưng người dân thị trấn ngồi cạy hàu dọc theo các con đường trong thị trấn đều thành thật nói không phải hàu bản địa. Nhiều người phải đem hàu Huế ra sông Nhật Lệ ở thị trấn Quán Hàu ngâm, con hàu sẽ trở nên béo hơn, ngọt hơn... Đó là điều mà người dân ở đây biết và làm nhưng không lý giải được.

Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

Vài thác lạ ở Đắk Lắk

Thác Drai Êga (còn có tên gọi khác là thác Buôn Tring) thuộc địa phận buôn Tring, xã Ea B’lang và phường An Lạc, thị xã Buôn Hồ. Đây là một thắng cảnh đẹp còn giữ được nhiều nét hoang sơ của tỉnh Đắk Lắk.

Thác còn gắn liền với nhiều huyền thoại, sự kiện lịch sử, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người dân tại Buôn Tring. Nằm gần trung tâm thị xã Buôn Hồ, giao thông đi lại thuận lợi, vì thế thác Drai Êga có tiềm năng rất lớn để đầu tư, phát triển du lịch. Từ đầu năm 2013, địa phương đã khoanh vùng bảo vệ di tích danh thắng thác Drai Êga với sự cộng tác của nhiều phòng ban để giữ vững một địa điểm du lịch đẹp.

Thác Drai Yông nằm cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 22km về hướng Tây Bắc. Theo tiếng đồng bào tại chỗ, thì Drai có nghĩa là thác, Yông có nghĩa là đòn dông (thanh gỗ bắt ngang trên cột chính tạo thành đỉnh của nóc nhà), như vậy Drai Yông có nghĩa là thác Đòn Dông.

Thác Drai Yông nằm ở đoạn thẳng trải dài trên dòng suối Ea Tul chảy từ Đông sang Tây và đổ vào sông Sêrêpốk huyền thoại. Nơi thượng nguồn thác có chiều rộng khoảng 80m, đổ xuống độ cao 12m, dưới chân thác là một hồ nước rộng khoảng 2.000m². Thác có nhiều cồn đá, cây và hang động lõm sâu vào trong vách đá, phía ngoài có bờ cỏ tạo ra một khung cảnh rất hoang sơ và thơ mộng.

Thác Drai Yông  là một thác đẹp, hùng vĩ, còn hoang sơ có nhiều tiềm năng phát triển du lịch; thác đã được Trung tâm Quản lý Di tích hoàn thiện thủ tục, lập hồ sơ, báo cáo UBND tỉnh Đắk Lắk xem xét trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích danh thắng cấp quốc gia.

Di tích danh thắng thác Drai Yông được khoanh vùng tổng diện tích: 67,4 ha; trong đó: vùng I khoảng 5,83 ha, vùng II khoảng 61,56 ha sẽ được phát triển thành nơi du lịch. Hiện nay, thác Drai Yông đã được được xếp hạng di tích cấp Quốc gia.

Đây là 2 trong số rất nhiều thác của tỉnh Đắk Lắk vừa được xếp hạng cấp Quốc gia, cấp tỉnh. Các thác trong đợt này có thể kể đến như Thác Dray Sáp Thượng (Thác Gia Long - Xã Ea Na, huyện Krông Ana); Thác Drai Kpơr (Xã Cư Bông, huyện Ea Kar); Thác Drai Yông (buôn Pôk, xã Ea M’nang, huyện Cư Mgar); Thác Thuỷ Tiên (Xã Tam Giang, huyện Krông Năng); Thác Drai Nur (Xã Dray Sap, huyện Krông Ana); và Thác Dray Knao (Xã Krông Jing, huyện M’Đrăk) - được xếp hạng cấp quốc gia ngày 17-9-2012.

3 thác được xếp hạng cấp tỉnh gồm: Thác Drai H’Jie (Buôn Khít, xã Ea Bhôk, huyện Cư Kuin; Thác Drai Dăng (Xã Ea Knĕc, huyện Krông Păc) và Thác Drai Gar (Buôn Tring, phường An Lạc, thị xã Buôn Hồ).
Đa phần những thác này chúng ta chưa từng đến, thậm chí nhiều người không biết. Vậy, bạn sẽ có kế hoạch khám phá nơi này không? Thử một chuyến nào?

Khám phá biển hải đăng Hòn Nước

(BĐO) - Anh bạn thân ngoài Phù Mỹ gọi điện rủ rê: “Cuối tuần thu xếp về hải đăng Hòn Nước chơi một chuyến đi! Mình sẽ rủ thêm mấy người bạn cùng xóm đi lặn biển. Bạn sẽ thỏa sức tắm biển, lặn ốc, bủa lưới bắt cá. Đi một chuyến, không chừng, bạn lại ghiền luôn đó”.

< Đường ra hải đăng Hòn Nước.

Hấp dẫn bởi lời mời gọi về một chuyến “đi săn” trên biển, ngày cuối tuần trời nắng đẹp, tôi cùng một người bạn chạy xe máy từ Quy Nhơn về hải đăng Hòn Nước.

Từ ngã ba thị trấn Bình Dương đi về hướng đông khoảng 10 km đến ngã ba Xuân Thạnh (Mỹ An), rẽ qua hướng Mỹ Thọ khoảng 4 km thì đến chân núi Gò Dưa. Từ đây, đi theo con đường nhỏ gần 1 km nữa mới đến được ngọn hải đăng nằm trên đỉnh núi.

Hải đăng Hòn Nước nằm trên đỉnh Gà Gô, thuộc dãy Gò Dưa (thôn Tân Phụng, xã Mỹ Thọ huyện Phù Mỹ). Ngọn hải đăng này được xây dựng từ thời Pháp thuộc và có tên gọi hải đăng Vũng Mới. Theo nhiều tài liệu, hải đăng Vũng Mới hoạt động một thời gian, sau đó bị chiến tranh hủy hoại. Đầu năm 1990 được xây dựng mới và chính thức đưa vào sử dụng vào ngày 26.3.1997. Tên hải đăng Hòn Nước được đặt theo tên một hòn đảo nhỏ gần đó.

Hải đăng Hòn Nước chỉ là “điểm hẹn”. Thực ra, “điểm đến” của chúng tôi là bãi biển dưới chân núi Gò Dưa nằm phía sau ngọn hải đăng. Theo lời anh bạn, bãi này dân gian gọi bãi Con, có mấy doi cát nằm lọt thỏm giữa những gành đá nhỏ. Từ trên cao nhìn xuống thấy cơ man nào là đá. Đá lớn, đá nhỏ như đang “dàn trận” đón những con sóng ngoài xa xô bờ.

< Bãi biển phía sau ngọn hải đăng, điểm đến hấp dẫn cho việc cắm trại, câu cá, lặn biển…

Vô tình, “đội quân đá” tạo nên những hõm nước nhỏ trong xanh, là nơi kiếm mồi và trú ẩn lý tưởng của nhiều loài cá. Theo anh Bùi Tuấn Việt, nhân viên trạm hải đăng, bãi biển này đẹp, thích hợp với các chuyến tham quan, cắm trại. Những bãi đá thiên tạo đã tạo nên những vũng nước êm, câu cá hoặc lặn biển rất lý thú. Những ngày cuối tuần, ngày nghỉ lễ có rất nhiều người từ các nơi về đây tắm biển, vui chơi. Ngọn hải đăng Hòn Nước trở thành một “điểm hẹn” dễ nhận biết nhất.

Từ trạm hải đăng, chúng tôi men theo con đường nhỏ đi xuống biển. Núi Gò Dưa chỉ toàn những bụi cây lúp xúp. Chà là nhiều vô kể. Cây chà là ra trái vào mùa hè. Trái chín đen bóng, ngọt lịm, ăn no mới thôi. Những ai từng lớn lên ở vùng núi hoặc bán sơn địa, hẳn đều có những kỷ niệm về mùa chà là chín. Tiếc là, giờ đã sang đầu thu…

< Xa xa là hòn Đụn, hòn Nhàn.

Trời dần về trưa. Nắng gắt. Nhưng là thời điểm lý tưởng để chúng tôi thực hiện “chuyến đi săn” của mình. Theo lời giải thích của anh Định, người địa phương, trời càng nắng, sóng êm và nước biển càng trong. Chỉ cần mang kính lặn, lặn xuống nước có thể nhìn rõ mọi thứ dưới đáy biển.

Như để chứng minh lời mình nói, anh kéo tôi ra hõm nước sâu giữa những gành đá, hướng dẫn cho tôi cách mang kính lặn, sau đó “ùm” một cái. Một không gian trong lòng biển mở ra với những bất ngờ, thú vị. Giữa làn nước trong vắt được ánh nắng soi chiếu, mở mắt nhìn qua kính lặn trông rõ mọi thứ mồn một. Tôi quạt tay, trườn người qua những mỏm đá với thiên hình vạn trạng nằm dưới đáy biển trong cảm giác nhẹ nhàng, khoan khoái. Để mặc tôi vẫy vùng thỏa thích, anh Định tay vịn chiếc thau nhôm, mặt úp vào nước để săn bọn nhum, ốc nằm dưới đáy. Phát hiện được con nào, anh lại lặn xuống nhặt bỏ vào thau. Bắt ốc biển mà cứ nhẹ nhàng như rong chơi vậy!

Phía bên kia gành đá, nhóm anh Tuấn mang kính lặn theo dõi hướng đi của đàn cá. Khéo léo lùa chúng bơi vào gành, sau đó vây bủa lưới vòng ngoài và đuổi. Tay lưới dài hơn chục sải, mới mua một triệu rưỡi và bữa nay là ngày anh Tuấn mang đi “khai trương”. Bị truy đuổi, lũ cá dìa, cá mú, cá bò da… tháo chạy tán loạn, va vào lưới tung rần rật.

Sau hơn hai giờ săn đuổi, ngụp lặn, vẫy vùng trong làn nước biển xanh, chúng tôi bắt đầu thấm mệt. Thành quả của chuyến đi cũng khá ấn tượng nên chúng tôi quyết định dừng “cuộc săn” để lên bờ thưởng thức. Vừa leo lên mỏm đá, Hoàng- anh chàng trẻ nhất trong nhóm- vội “nhón” con nhum trụi trong thau nhôm, lấy cái rựa mang theo chẻ làm đôi, dùng ngón tay gẩy miếng thịt nhum vàng ươm đưa lên miệng nuốt cái ực! Trong khi tôi “mắt tròn mắt dẹt” kinh ngạc thì anh chàng cười ha hả. Anh Tuấn giải thích: “Nhum trụi thịt ngon, bổ cực kỳ luôn. Dân biển bọn tui thường ăn vậy cho khỏe”. Nói xong, anh chẻ một con nhum làm đôi, mời tôi dùng thử nhưng tôi đành lắc đầu…

< Con đường nhỏ phía Đông ngọn Hải đăng.

Lửa được nhóm lên dưới chân núi sát mé biển. Những con cá dìa to bằng bàn tay được xiên vội qua nhánh dương, nướng trên lửa than hồng rực. Mỡ cá chảy xèo xèo, ngút khói.

Trời ngả sang chiều. Nắng hanh hao. Mùi cá nướng thơm lừng, lan tỏa. Trong chếnh choáng hơi men, thấy cuộc đời thú vị trong từng chuyến đi…
Xem thêm >

Theo Sơn Phạm (báo Bình Định)

Núi Chà Bang - Ninh Thuận

Núi Chà Bang thuộc xã Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, (cách Phan Rang 25 km về phía Nam Đông Nam). 
Từ xa nhìn núi chia thành hai nhánh nên người Chăm gọi là Chơk Chabbang, nghĩa là núi hai nhánh. Độ cao của núi 439m. Đứng trên đỉnh núi có thể thấy rõ biển theo vệt dài từ bãi Cà Ná đến vịnh Phan Rang, thấy dãy núi và đèo Ngoạn Mục đi Đà Lạt.

Theo truyền thuyết của người Chăm, Pô Nai là con gái đầu trong ba chị em gái con của Thượng đế Anưk Dêbita, được phái xuống trần gian để cứu nhân độ thế. Ba vị này được người Chăm thờ như vị thần Hộ mệnh.

< Từ trên núi nhìn xuống.

Pô Nai tên là Nai Tang Ya Bia Atapah. Vì tình yêu dang dở với chàng dũng sĩ người Raglai tên là Kay Kamao, Pô Nai đến núi Chà Bang tu hành và đắc đạo ở núi này. Truyền thuyết còn kể rằng: khi Pô Nai lên núi Chà Bang tu hành, dũng sĩ Kay Kamao dùng nỏ thần bắn tên làm núi đá nứt làm đôi thành hai nhánh nên núi có tên gọi là Chà Bang.

Tại nơi thờ Pô Nai trên đỉnh núi Chà Bang có tượng Linga-Yoni bằng đá. Ngay dưới chân núi, ngày xưa người Việt lập chùa thờ Phật với tên gọi là chùa Trà Cang, ngày nay chùa thu hút nhiều khách thập phương đến hành hương lễ Phật.

< Núi Chà Bang nhìn từ bãi biển Ninh Chữ.

Lễ hội Pô Nai mỗi năm diễn ra một ngày, nhằm ngày thứ 6 (Hồi giáo) thứ 2 (Bàlamôn giáo) trong các tháng 1,2,3 lịch Chăm (tương ứng 4,5,6 Dương lịch).

< Nhìn từ chân núi Chà Bang.

Trong ngày ấy, nhân dân Chăm vùng phía Nam huyện Ninh Phước hành hương lên tận đỉnh núi Chà Bang để làm lễ cúng nữ thần Pô Nai, hát múa và cầu nguyện nữ thần phò hộ, ban những điều tốt lành cho cuộc sống. Địa điểm hành lễ tận đỉnh núi cao hoang vu là đặc điểm không giống với một lễ cúng nào khác của người Chăm.

Lễ hội Pô Nai ở núi Chà Bang là một lễ hội đặc sắc, thể hiện ước muốn mưa thuận gió hòa của cư dân nông nghiệp với nghi thức Hồi giáo, thờ Linga-Yoni Bàlamôn giáo. Trong lễ hội, còn thể hiện ca múa nhạc dân gian Chăm nguyên sơ tại điểm non cao hùng vĩ của một vùng quê.

Đá Đông: đảo phòng tuyến cạnh TQ

Nếu đảo Trường Sa Lớn được ví như thủ phủ của quần đảo Trường Sa thì các đảo chìm được xem như là những vùng sâu, vùng xa còn nhiều gian khó ở nơi biên cương Tổ quốc trên biển Đông.

< Đảo Đá Đông.

Ra Trường Sa mà chưa đến đảo chìm là chưa biết, chưa cảm nhận đầy đủ về người lính đảo xa. Các hòn đảo chìm như Đá Đông, Đá Tây, Đá Nam, Đá Lát, Tiên Nữ, Cô Lin, Len Đao… để lại ấn tượng không thể phai mờ cho tất cả những ai dù chỉ một lần đặt chân tới về nỗi gian nan và cả hy sinh nhưng rất đỗi kiên cường, anh dũng tại nơi đầu sóng ngọn gió này.

Nằm rất gần đá Châu Viên do Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp vào cuối thập niên 80, đảo Đá Đông như điểm tiền tiêu, hàng phòng thủ vững chắc bảo vệ thị trấn Trường Sa (thủ phủ huyện đảo Trường Sa).

Theo sách Những điều cần biết về hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và khu vực thềm lục địa phía nam (DK1) (Cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam. 2011), Đá Đông là một rạn san hô vòng thuộc cụm Trường Sa của quần đảo Trường Sa. Đây là một trong bốn bộ phận cấu thành cụm đá ngầm mà các nhà hàng hải quốc tế gọi là cụm rạn Luân Đôn, tức London Reefs (ba thực thể còn lại là đá Tây, rạn vòng chứa đảo Trường Sa Đông và đá Châu Viên).

Đá Đông nằm cách Đá Tây khoảng 19 hải lí (35,2 km) về phía đông và cách đá Châu Viên 10 hải lí (18,5 km) về phía tây. Đá Châu Viên là bãi đá ngầm do Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp từ thập niên 80. Hiện nay, Trung Quốc đã xây dựng công trình kiên cố bất hợp pháp ở vị trí này. Với vị trí đối mặt với, chiến lược chiếm đóng xen kẽ của Trung Quốc, Đá Đông trở thành điểm quan trọng phòng thủ cho đảo Trường Sa Lớn.

< Đá Châu Viên bị Trung Quốc chiếm đóng và xây dựng công trình bất hợp pháp.

Theo tài liệu của Lữ đoàn 146, Đá Đông cách bán đảo Cam Ranh 253 hải lý, đảo Đá Đông nằm ở 80 49’ 21” vĩ độ Bắc, 1120 39’ 34”  kinh độ Đông, phía Tây khoảng 24 hải lý có đảo Đá Tây. Phía Tây Bắc khoảng 16 hải lý có đảo Trường Sa Đông. Đảo Đá Đông là một trong 5 đảo chìm 3 điểm của huyện Trường Sa.
Một tài liệu khác của quân đội Mỹ, mà Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3 dẫn, cho biết: Đá Đông là một tảng đá sắc, cao khoảng 0,9m, nằm gần đầu tây đảo Đá Đông. Có nhiều mỏm đá khác hiện rõ ở khu vực đông và nam của rạn đá. Có sóng tràn đánh dấu Đá Đông.

Chấp hành Chỉ thị của Bộ Tư lệnh Hải quân về việc thực hiện nhiệm vụ CQ 88, cuối tháng 2-1988, ta hoàn thành nhiệm vụ chốt giữ được đảo Đá Đông. Trải qua nhiều  năm, cán bộ, chiến sỹ đảo Đá Đông luôn đoàn kết, chủ động, linh hoạt trong mọi tình huống; phát huy truyền thống “Chiến đấu anh dũng, đoàn kết chủ động, khắc phục khó khăn, giữ vững chủ quyền” của Trường Sa anh hùng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; tích cực chủ động trong công tác cứu hộ cứu nạn, giúp đỡ ngư dân. Những điểm đảo xa của Tổ quốc ta hôm qua còn chưa được ghi nhận trên bản đồ thế giới thì nay đã trở thành những cái tên thật gần gũi, thân thương, trở thành niềm tin, niềm mong đợi của đất liền.

< Vườn rau trên đảo Đá Đông.

Khác với các đảo nổi, ở đảo chìm Đá Đông nguồn nước ngọt dùng cho sinh hoạt được khai thác từ nước mưa và vận chuyển từ đất liền ra. Những năm gần đây do được trang bị hệ thống bể chứa nên đảo đã chủ động bảo đảm được 100% nhu cầu nước sinh hoạt. Để tăng gia trồng rau xanh cán bộ, chiến sỹ đảo Đá Đông  phải vận chuyển từ đất liền ra từng bao đất nhỏ.

Mặc dù nguồn nước ngọt khan hiếm, song nhờ các biện pháp sử dụng nước ngọt tiết kiệm trong sinh hoạt, cán bộ chiến sỹ đảo Đá Đông đã thực hiện tốt công tác trồng rau xanh đáp ứng nhu cầu sinh hoạt. Dù rất chật hẹp nhưng trên đảo vẫn có hàng chục con gà, ngan, vịt, lợn, chó. Rau xanh thì có muống, dền, sam, cải... sống trong các thùng đất nhỏ được các chiến sĩ chăm chút cẩn thận bởi ngoài cái nắng gió khắc nghiệt và hơi mặn từ nước biển thì chỉ cần một cơn sóng tung bọt đổ xuống cũng đủ làm rũ chết cả vườn rau. Tổng sản lượng tăng gia năm 2012 đạt hàng nghìn kilogam rau xanh và thịt cá các loại.

Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đảo Đá Đông được xây dựng 3 nhà khang trang hơn. Nhất là hệ thống năng lượng gió, năng lượng mặt trời trên đảo được đưa vào sử dụng đã góp phần nâng cao đời sống sinh hoạt, học tập công tác, đưa cán bộ, chiến sỹ trên đảo về gần đất liền thân yêu hơn nữa.

Đời sống vật chất tinh thần của cán bộ, chiến sỹ đảo Đá Đông từng bước được cải thiện. Các điểm đảo được trang bị tivi, hệ thống karaoke kỹ thuật số hiện đại. Trạm thu phát tín hiệu vệ tinh của đài truyền hình Việt Nam đã giúp cho cán bộ, chiến sỹ trên đảo cập nhật kịp thời những thông tin trong nước và thế giới. Trên các điểm đảo có tủ sách, báo với gần 1.000 đầu sách và trên 20 đầu báo các loại, 1 tủ sách pháp luật...

Mỗi mét vuông được xây lên tại đảo Đá Đông giúp lãnh thổ Việt Nam thêm vững chãi. Mỗi mét vuông rộng dài hơn đều thấm những giọt mồ hôi, giọt máu của các thế hệ cán bộ chiến sĩ hải quân. Trưởng thành trong tâm thế sẵn sàng chiến đấu, vượt qua khó khăn, mọi cán bộ, lính đảo đều ý thức cao tinh thần trách nhiệm và tận dụng tất cả diện tích có thể, dù chỉ là 1 cm để tăng gia sản xuất.

Lớp lớp cán bộ, chiến sỹ đảo Đá Đông đã lập nên những thành tích xuất sắc được lãnh đạo, chỉ huy các cấp ghi nhận. Nhiều năm qua, đảo được Lữ đoàn, Bộ Chỉ huy Vùng 4 tặng Giấy khen, Bằng khen và Bộ Tư lệnh Hải quân tặng danh hiệu “Đơn vị quyết thắng”…

Theo Hồng Chuyên - Lại Hà (Infonet)

Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013

Du lịch sinh thái cồn Đen

Lữ khách phương xa khi đến Nam Định vẫn thường nghe câu ngỏ rằng:
“Cồn Lu Cồn Ngạn Cồn Mờ,
Trong ba Cồn ấy, anh mơ Cồn nào ?”.
... thì khi về đến Thái Bình bạn sẽ được nghe câu:
“Cồn Đen Cồn Thủ Cồn Vành,
Kìa thêm Cồn nữa, Cồn Mờ thứ tư”.

< Bình minh trên Cồn Đen.

Tại quê hương năm tấn, du khách sẽ được chiêm ngưỡng không chỉ ba mà đến bốn cồn cát đẹp tựa trong tranh gồm: Cồn Vành - Cồn Thủ ở Tiền Hải, Cồn Đen ở Thái Thụy và một cồn cát đang dần hình thành phía nam Cồn Đen với một tên gọi mới là Cồn Mờ.

Cồn Vành - Cồn Thủ thì Dulịch, GO! đã có dịp giới thiệu với bạn rồi nên bài viết này sẽ đề cập đến cồn Đen. Cồn Đen là một cồn cát hoang sơ nằm cách đất liền 3 km thuộc xã Thái Đô, Thái Thuỵ, Thái Bình. Cách Thị trấn Diêm Điền 15 km về phía Nam và cách trung tâm thành phố Thái Bình khoảng 40 km về phía Tây.

Đây là dải cồn cát có diện tích 1.150ha, dài khoảng 3km, chiều rộng chỗ lớn nhất khoảng 700m, chỗ hẹp nhất 450m.

Cồn Đen được hình thành do kiến tạo bồi đắp phù sa và bùn cát của sông Trà Lý dưới tác động của dòng chảy giữa sông và chế độ thủy động lực vùng ven biển tạo thành nên có địa hình tương đối bằng phẳng. Phía Nam của cồn cát hiện nay vẫn đang tiếp tục được bồi tụ và phát triển dài dưới dạng các mũi cát chạy song song với đường bờ.

Cồn Đen nằm trong khu vực dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới năm 2004. Đến nay khung cảnh tự nhiên trên cồn vẫn còn hoang sơ, được nhiều người đánh giá là cồn biển đẹp nhất miền Bắc với vùng cảnh quan trải dài bao gồm các bãi cát mịn và khu vực nuôi ngao.

Dọc theo cồn cát là dải thông xanh, khu vực phía trong là thảm thực vật còn nguyên sơ, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển độc đáo với các loài thực vật như dừa nước, hoa muống biển, cây vẹt, cây bần, cây sú.
Khu vực này hiện có khoảng 200 loài chim, trong đó có gần 60 loài chim di cư, hơn 50 loài chim nước; nhiều loài chim quý hiếm được ghi trong Sách đỏ thế giới như: cò thìa, mòng bể, rẽ mỏ thìa, cà trắng bắc…

Rừng ngập mặn ở đây không chỉ là 'bức tường xanh' bảo vệ đê biển, làng xóm khỏi bị tàn phá bởi gió bão mà còn là nơi cung cấp nguồn lợi thủy hải sản phong phú cùng với 500 loài động vật thủy sinh và cỏ biển có giá trị kinh tế cao. Tất cả đã tạo nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn lạ kỳ đối với cồn cát này.

Khi đến cồn Đen, du khách vừa thỏa sức tìm hiểu thế giới thiên nhiên ven biển kỳ thú, ngắm những đợt sóng trắng xóa ào ạt xô bờ, tận hưởng những làm gió mát lành từ biển thổi vào. Từ khu du lịch sinh thái cồn Đen, có thể đi dọc các xã ven biển, khám phá quần thể rừng ngập mặn với diện tích gần 4.000 ha, thăm quan Khu lưu niệm đồng chí Nguyễn Đức Cảnh và một số di tích đình, đền, chùa ở Thái Thụy và thưởng thức món đặc trưng của người dân quê biển như: nộm sứa, gỏi nhệch, nước mắm Diêm Điền…

Trên khu vực cồn Đen, đường đi lại chủ yếu bằng đường đất, ngoài một trung tâm điều hành sản xuất giống ngao và đồn Biên phòng thì hiện này chưa có dân cư sinh sống nên nguồn nước ngọt phải tự cấp bằng nước mưa, hệ thống điện sử dụng máy phát cục bộ, hệ thống thoát nước chủ  yếu là các mương xây lấy nước phục vụ nuôi trồng thủy sản.

Năm 2010, UBND tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch chung Khu du lịch sinh thái cồn Đen với diện tích 1.150ha gồm toàn bộ khu vực cồn Đen và một phần diện tích nuôi trồng thủy sản thuộc xã Thái Đô. Theo đó, cồn Đen sẽ được quy hoạch thành khu du lịch sinh thái có bãi tắm biển, khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí (sân thể thao, khu trượt nước), khu du lịch văn hóa tổng hợp, trung tâm mua sắm, hệ thống cây xanh...

Đường đến đó không quá khó đi vì Cồn Đen chỉ cách trung tâm thành phố Thái Bình khoảng chừng 45 km. Nếu từ TP, khách nên đi theo hướng cầu Thái Bình, sau đó đến ngã tư Gia Lễ thuộc huyện Đông Hưng rồi rẽ phải - Chạy xe thẳng tiến đến chân cầu Vô Hối thuộc Thái Thụy thì rẽ phải tiếp chạy dọc bên bờ nam sông Diêm, đến ngã ba Vị Dương rồi rẽ phải lần nữa, đi đến ngã ba Chợ Phố Thái Phúc chúng ta rẽ về bên trái rồi chạy thẳng băng qua ngã tư, qua Thái Hưng (khu nhà thờ). Đến ngã tư trên rẽ phải đi qua Thái An và chạy thẳng tiếp băng qua ngã tư Chợ Lục - Thái Xuyên là đến vùng viên giới biển (frontier) thuộc xã Thái Đô.

Sau khi rẽ trái theo đường trục qua Ủy ban nhân dân, Trường THCS, Trường tiểu học (Thái Đô), khách rẽ phải tiếp lên con đê của dự án (đê mới đổ bê tông) chừng độ hơn 3km là sẽ nhìn thấy khu Du lịch sinh thái cồn Đen hiện ra.

Sau khi gửi xe, chúng ta đi bộ qua cây cầu gỗ dài chừng 500m, đi qua cầu phao bằng tre bắc qua con sông nhỏ là khách đã có mặt ở trung tâm của khu du lịch sinh thái Cồn Đen.

- ảnh internet

Thiên nhiên hoang dã ở núi Dinh

(DNSGCT) - Nằm sát con đường quốc lộ 51 thuộc huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là dãy núi Dinh hùng vĩ với tổng diện tích toàn khu vực gần 60km².

< Một góc núi Dinh.

Quần thể núi non này có rừng cây xanh ngút cùng những am, chùa, cốc, miếu độc đáo nằm ven các con suối. Nhưng đến nay vẫn ít ai có cơ hội chiêm ngưỡng núi Dinh hoang sơ vì điều kiện du lịch ở đây còn khó khăn.
Núi Dinh buổi sáng thật đẹp. Một màu xanh mượt bao trùm trên các dãy núi, sương trên các đỉnh tan dần, chỉ còn sót lại vài dải sương trắng nổi bật trong màu xanh của rừng.

Khi những màng sương mỏng đã tan hết thì các sườn núi như được dát vàng bởi tia nắng mặt trời rực rỡ. Lũ chim chóp mào đang ríu rít gọi nhau thưởng thức chùm quả trên cây trường chín mọng.

Đàn chim bồ chao cũng được dịp ngoác mỏ kêu la inh ỏi cả một góc rừng khi phát hiện ra chúng tôi đang bắt đầu cuộc hành trình vượt dốc để tìm kiếm những bông hoa lan đầu mùa. Phía đối diện, dãy núi ông Trịnh cao 504m so với mặt nước biển đang thách thức chúng tôi vượt qua.

< Lan rừng.

Mùa này những chùm muồng hoa đào đang khoe sắc rực rỡ. Loài thực vật này luôn gây được sự chú ý của các loài côn trùng bởi mùi hương thơm nhẹ nhưng quyến rũ của nó.

Cả đoàn đang bước đi trong im lặng, bỗng một con heo rừng đang mải mê kiếm ăn vụt chạy rất nhanh vào rừng khi nhìn thấy bóng người. Các loài động vật hoang dã ở nơi đây đã bị săn bắt gần như cạn kiệt và rừng cũng bị tàn phá nặng nề.

< Heo rừng đang lẩn trốn.

Hầu hết các loài thú ăn cỏ, ăn thịt như nai, mễn… đều đã tuyệt diệt, những gì còn sót lại chỉ là một số cá thể khỉ, heo rừng, một số loài thú ăn thịt nhỏ như chồn, cheo cheo.

Một số loài bò sát lưỡng cư còn tồn tại ở đây rất đáng để nghiên cứu vì rất có thể sẽ tìm ra loài mới hay loài đặc hữu ở những dãy núi biệt lập như thế này.

Trên một nhánh cây nhỏ, đôi chim bông lau đít vàng đang say sưa ngắm nhìn thành quả của tình yêu bên dưới. Chỉ vài tuần nữa những quả trứng sẽ nở ra bầy chim non xinh đẹp.

Lên đến độ cao hơn 500m, phóng tầm mắt nhìn xa về phía biển, phong cảnh thành phố, làng mạc hiện ra như một bức tranh hoàn hảo. Trên vách đá dựng đứng và trơn trượt, những mảng hoa lan nhài tím đầu tiên đã xuất hiện như một chiếc thảm hoa đầy màu sắc rực rỡ.

Trong chiếc thảm nhung đỏ rực, loài lan nhài tím này là một chùm hoa lan đột biến với chiếc cánh môi màu tím nhạt và cánh tràng màu trắng tuyệt đẹp đang đung đưa theo gió.

Bên một vách đá ẩm ướt là đám xanh nhỏ li ti kiến chúng tôi giật mình khi nhìn thấy những bông hoa lan trứng ốc. Trong một góc khuất của tảng đá dựng đứng, loài hoa lan chu đình vàng lặng lẽ khoe sắc vàng tinh khiết nổi bật trong những mảng đá đen xù xì.

Buổi trưa, mọi người ngả lưng ngắm nhìn bầu trời trong xanh không một gợn mây, từng tia nắng gay gắt như cố xuyên qua đám lá dày của khu rừng còn sót lại. Gió đang đùa nhau xào xạc trên những tán lá xanh rì.

Bất chợt một cảm giác nhồn nhột dưới lưng khiến tôi bật dậy. Tôi lặng người ngắm nhìn vợ chồng nhà chuột chù núi cao đang ngủ ngon lành trong chiếc lá khô cuộn lại như chiếc kèn.

Lần đầu tiên trong đời làm khoa học tôi nhìn thấy một loài chuột trưởng thành có kích thước nhỏ bé đến thế. Kích thước chúng chỉ bằng phần đầu chiếc bút bi mà chúng ta vẫn dùng hằng ngày.

< Từ núi Dinh nhìn xuống.

Nhìn từ trên cao xuống, toàn cảnh núi Dinh trùng điệp nhấp nhô trải dài như bất tận. Đây là chốn để người ta hòa mình vào cỏ cây hoa lá và lắng nghe tiếng gọi bầy của lũ chim, tiếng róc rách của dòng suối, tiếng rỉ rả của côn trùng cùng cất lên như một bản giao hưởng bất tận của rừng xanh.
Xem thêm >

Theo Phùng Mỹ Trung (báo Doanh nhân Sàigòn Cuối Tuần)

Đình Tiên Thủy (Bến Tre)

Đình Tiên Thủy tọa lạc tại ấp Khánh Hội Đông, xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, cách trung tâm thành phố Bến Tre khoảng 20km về hướng Đông Nam có tổng diện tích là 11.587m2, diện tích xây dựng là 835,18m2. Đình có cấu trúc theo hình chữ Sơn với các gian kiến trúc: võ ca, võ quy và chính điện được xây liền nhau.

< Cổng đình Tiên Thủy.

Phía sau là nhà chỉnh y, nhà bếp và nhà tiệc. Phía trước có bức bình phong và 4 ngôi miếu: miếu Ông Hổ, miếu Ngũ Hành, miếu Thổ Thần, miếu Bà Chúa Xứ và bàn thờ Thần Nông.

Đình thờ 4 vị thần với 4 sắc phong gồm:  Cao Các Quảng Độ tôn thần, Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi, Bổn Cảnh Thành Hoàng, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải và được an vị vào ngày 11 tháng 11 năm Nhâm Tý (1852). Từ đó đến nay, cứ đến ngày này thì tất cả dân làng tập họp lại làm lễ cúng rất long trọng.

Đình chính gồm các nóc: võ ca, võ quy và chính điện với kiến trúc chung là nhà xuyên trính, 3 gian, hai chái. Các cây cột gỗ đứng song song nhau, được gắn kết với nhau từng cặp theo chiều ngang bởi các cây trính và theo chiều dọc mỗi hàng có một thanh gỗ dài xuyên qua 4 cây cột. Trên giữa mỗi cây trính là cây trổng có cối (khối gỗ hình vuông ở chân) và áp quả hình tam giác để chống đỡ đầu 2 cây kèo và đòn dông. Các nóc nối liền nhau tạo thành một thể thống nhất. Mái đình lợp ngói âm dương.

Đình có tất cả 42 cột được làm bằng gỗ căm xe và gỗ lim có chu vi từ 90 đến 100 cm. Nền chính điện lót gạch bông, xung quanh kè gạch thẻ, cao hơn 5 tấc so với tổng thể toàn bộ đình. Các gian còn lại lót gạch tàu. Cột, kèo, đòn tay được kết dính với nhau bằng kỹ thuật mộng chốt, đầu kèo chạm hoa văn trang trí sống động, sắc sảo. Toàn bộ đình được kè gạch thẻ xung quanh, cao hơn sân đình 6 tấc. Nóc đình trang trí long mã hà đồ, long ẩn vân, lưỡng long tranh châu, cá hóa long, cừu, song đăng, rồng,...

Đặc biệt, trên nóc đình chính có một tháp trang trí 4 tranh phong cảnh 4 mặt, nóc trang trí hoa văn đắp nổi, 2 góc tháp đắp nổi 2 đầu rồng quay ra 2 phía. Trung tâm đình là phần chính điện với kiến trúc 3 gian, 2 chái bát dần theo kiểu tứ trụ được trang trí nhiều hoành phi, câu đối, bao lam, thành vọng bằng gỗ rất có giá trị. Các hoa văn, đồ án trang trí của đình đều do một nhóm thợ lành nghề từ miền Trung vào. Sự tài hoa của người thợ thể hiện qua các hình thức trang trí từ chạm nổi, chạm lộng, chạm khắc đến cẩn ốc xà cừ rồi sơn son thếp vàng rực rỡ.

Đáng chú ý nhất là ngay cửa chính vào gian chính điện, đình còn lưu giữ một hoành phi chữ Hán, trang trí hoa lá xung quanh bằng ốc xà cừ với nội dung cũng được cẩn ốc: Tiên Thủy linh miếu (ngôi miếu linh Tiên Thủy) với dòng lạc khoản bên phải là Thành Thái Bính Thân thu (dịch là năm Bính Thân, đời vua Thành Thái, mùa thu tức là hoành phi này được tạo vào mùa thu năm 1896).

Đến năm 1928 (Đinh Mão), đình được trùng tu khang trang do ông Tạ Khắc Dệt đứng ra vận động nhân dân trong vùng đóng góp sức người, sức của. Bởi thế, đình còn lưu giữ nhiểu hoành phi, câu đối, bao lam, thành vọng ghi năm Đinh Mão do nhân dân trong vùng hiến cúng cho đình. Cổng chính của đình hướng Đông Bắc, đình hướng về chánh Đông (sông Tiên Thủy). Hiện tại vẫn còn một cầu dẫn ở sông Tiên Thủy hướng về ngay cổng đình dùng để thả hoa đăng trong mỗi dịp cúng Kỳ yên hàng năm.

Ông Trần Văn Giác, Chánh tế đình Tiên Thủy cho biết: Ngôi đình có lịch sử hàng trăm năm tuổi này đã trải qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ được nét cổ kính, tinh xảo của kiến trúc xưa. Lần gần nhất ngôi đình được trùng tu là vào năm 1928 và giữ nguyên diện mạo cho đến hôm nay. Ngôi đình có diện tích gần 2.500m2, nằm trong khuôn viên rộng gần 2 ha.

Tương truyền vào năm 1778, Nguyễn Ánh chạy trốn quân Tây Sơn và đã đến nơi này. Ông thấy nước sông ở đây trong veo lại có vị ngọt lành lạ thường nên đặt tên sông là Tiên Thủy (nước tiên). Các bô lão trong làng sau đó họp lại và quyết định dựng lên một ngôi đình bằng cây lá đơn sơ tại vị trí Nguyễn Ánh từng trú chân. Đến năm 1852, vua Tự Đức ban sắc phong cho đình vào ngày 11/11. Từ đó đến nay, ngày 10-12/11 Âm lịch hàng năm được chọn làm lễ hội kỳ yên đình Tiên Thủy.

Ông Trần Duy Đăng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tiên Thủy cho biết, lễ hội kỳ yên được tổ chức hàng năm là tín ngưỡng lâu đời của nhân dân trong vùng. Mục đích của lễ hội là cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, mùa màng thuận lợi. Mỗi năm, có hàng ngàn lượt người tham dự và đây là lễ hội truyền thống có quy mô lớn nhất nhì cả vùng.

Tọa lạc ở xứ sở cây lành trái ngọt, cổng đình Tiên Thủy hướng ra sông Đông (tên gọi khác của sông Tiên Thủy). Ngôi đình này nổi tiếng linh thiêng và gắn liền với nhiều giai thoại. Hàng trăm nay nay, đây là chỗ dựa tâm linh vừa thiêng liêng vừa gần gũi đối với người dân địa phương. Đây cũng là nơi nhiều con xa xứ hướng về.

Hàng năm, đình có các lễ cúng: ngày 7 tháng Giêng là lễ Khai sơn; 13 tháng Giêng là lễ cúng Quan Thánh (Quan Công); mùng 10 tháng 3 là lễ Giỗ Tổ Hùng Vương; 11 tháng 4 là lễ Hạ điền; mùng 10, 11, 12  tháng 11 là lễ Kỳ yên; ngày 11 tháng 12 là lễ Thượng điền. Đặc biệt, lễ Kỳ yên có tổ chức hát bội và du thần.

Đình còn lưu giữ nhiều công trình kiến trúc gỗ độc đáo và các văn bản chữ Hán trên sắc phong, bao lam, liễn đối, hoành phi, khánh thờ,…
Dù trải qua thời gian hơn 150 năm nhưng ngôi đình vẫn còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, thời gian và ảnh hưởng của môi trường đã làm cho đình Tiên Thủy bị hư hỏng nhiều chỗ. Hiện tại đình còn lưu giữ 14 hoành phi, 03 liễn áp cột, 02 hương án, 06 bao lam, 04 khánh thờ, 04 sắc phong cùng nhiều liễn đối, bài vị,… rất có giá trị.

Ngày 20/8/2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có Quyết định số   2836/QĐ-BVHTTDL công nhận đình Tiên Thủy (xã Tiên Thuỷ, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre) là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Khu vực bảo vệ di tích đươc xác định theo biên bản và bản đồ khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích trong hồ sơ.
Xem thêm >

Theo Trần Hoàng Huấn (Bentre.gov) + ảnh internet

Cầu hôn ở... đảo hoang

(iHay) - Ước muốn làm Robinson trên một hòn đảo hoang vắng không phải là điều gì đó xa vời. Hàng chục hòn đảo chưa có người ở trong vùng vịnh Tây Nam đang là chốn lui tới của những bước chân phượt thủ.

Cầu hôn kiểu Robinson

Tuấn John ngồi không yên bên ly cà phê dưới rặng cây ở thị trấn Dương Đông. Thỉnh thoảng, anh lại móc điện thoại gọi ra tàu để hỏi thăm “kết quả”, như thể đang tham gia một trò cá cược. Biển mùa này không hiền. Thế nhưng đã có một anh chàng người Anh đã đặt hết hy vọng của mình vào chuyến đi biển này, mà “bầu” Tuấn là người đứng ra “dàn xếp” mọi chuyện.

Trần Thanh Tuấn (27 tuổi), là giám đốc một công ty chuyên tổ chức các tour lặn ngắm san hô ở vùng biển Phú Quốc. Nhưng nếu khách cần, anh cũng thiết kế những chuyến đi theo yêu cầu. Trong đó, có không ít những yêu cầu được đưa đến những “nơi còn sót lại của thế giới”, nơi cách biệt với cuộc sống máy móc và xây dựng.

< Khách nước ngoài và Tuấn.

Cuộc sống hoang dã được “đạo diễn” bởi những con người chuyên nghiệp và am hiểu biển, cộng với cảnh vật đẹp như thiên đường ở những hòn đảo chưa có người sinh sống đã đã làm nhiều du khách từ khắp nơi tìm đến trải nghiệm.

Nhưng hôm nay có vẻ như đặc biệt. Anh chàng Tim đến từ Anh dặn Tuấn John tìm mua giúp hoa hồng, rượu vang và cây dao bằng sứ. Chuyến đi này do khách "đạo diễn".

Tim thú thật là anh đã đặt hết tất cả hy vọng vào chuyến đi này cho cái gật đầu đồng ý lời cầu hôn từ cô nàng Ema xinh đẹp, nên anh muốn mọi thứ phải hoàn hảo và bất ngờ. Tuấn nói, là dân làm du lịch biển, anh không ít lần tổ chức những tour cầu hôn lênh đênh trên biển hay lặn dưới nước, nhưng cầu hôn kiểu Robinson này thì anh mới tổ chức lần đầu.

Theo “kịch bản” thì tàu của Tuấn sẽ đưa Tim và Ema đến một nơi không có người, để cả hai lại nơi đó cùng với rượu, hoa hồng và thức ăn. Trước khi rời đảo, người của Tuấn sẽ cho Tim biết vị trí của cái chai được thả trên biển, trong chai có mảnh giấy ghi “will you marry me?” (Em sẽ lấy anh  chứ?).

< Một đôi bạn trẻ người nước ngoài vào tour khám phá đảo hoang.

Tàu sẽ trở lại đảo đón hai người khi việc cầu hôn có kết quả. Tuấn nói, ít khi nào tổ chức cho khách đi mà anh thấy hồi hộp như lúc này, bởi anh không muốn hoang đảo mà mình đưa đến lại là kỹ niệm buồn của những khách xa.

Từ sáng, trưa, đến chiều, tàu vẫn chưa vào đảo đón khách. Tuấn bắt đầu cảm thấy sốt ruột. Mấy anh bạn biết chuyện đặt ra giả thuyết có khi nào anh chàng nhận phải cái lắc đầu của người đẹp, thất vọng không chịu về hay không? Chuyện gì cũng có thể xảy ra với người đang yêu.

Tối. Tuấn báo với tôi rằng “dường như” đã có kết quả. Tim kể lại rằng để tạo ấn tượng khó quên cho người yêu, anh đã mời Ema đi một chuyến ra đảo hoang và được nhận lời. Phía ngoài bãi cát vàng, anh đã nhờ người của Tuấn thả chai có chứa lời cầu hôn. Mọi việc sẽ được bắt đầu khi Ema lúc bơi ra biển sẽ tìm thấy lời cầu hôn của Tim. Thế nhưng, khó khăn tưởng chừng như đã xảy ra khi sóng cuốn trôi cái chai ra khỏi vị trí cũ.

Anh Lâm Thành Sơn, người lái tàu đưa Tim và Ema ra đảo kể lại, sau khi nhận được cái gật đầu của Ema, chuyến về Tim đưa ra đề nghị với Sơn: “Chỗ này là của chúng tôi, sau này anh đừng đưa ai tới”. Bất ngờ trước đề nghị này, Sơn thật thà lắc đầu: “Khách người ta đòi tới, tôi không thể không đưa”. Tim vẫn nằng nặc: “Ai đưa thì đưa, nhưng riêng anh thì xin đưa khách tới chỗ khác”.

“Kỹ nghệ” làm đảo hoang

< Phong cảnh hoang sơ ở đảo hoang ngày càng hấp dẫn du khách nước ngoài.

Sơn nói, nhiều khách ra đảo hoang, khi về lại đòi…mua đứt hay dặn đừng đưa ai ra đảo. Vì sau một lần ra đảo mà chẳng thấy ai, có người cứ tưởng rằng hoang đảo đã là của riêng mình đặt chân tới.

Cánh thạo biển đảo ở Phú Quốc từ lâu đã có hẳn những danh sách các đảo lớn nhỏ, đảo nào có người ở, đảo nào vẫn còn là đảo hoang. Riêng tại Quần đảo An Thới, phía nam Phú Quốc, trong số 15 hòn đảo lớn nhỏ thì chỉ có 3 đảo là Hòn Thơm, Hòn Rọi và Hòn May Rút Ngoài là có người ở, còn lại 12 đảo khác vẫn là đảo hoang. Trong số đó, đảo xa Phú Quốc nhất cũng chỉ cách 6 hải lý. Trong khi đó, ở phía bắc đảo Phú Quốc còn ít đảo hoang hơn, nhưng hai hòn Móng Tay và Đồi Mồi ở đây có bãi cát đẹp nên cũng có nhiều khách tìm đến để được vài giờ làm… chúa đảo.

Tuy tìm ra hoang đảo để trải nghiệm, nhưng rất ít khách một mình ra những nơi này, thường là một đôi hoặc một nhóm người. Có khi ra đảo hoang chỉ để… dạo một vòng, hoặc để dọn một bữa ăn, để ngắm chiều xuống biển, và cũng có người đòi… ở lại đảo. Tuấn kể, nhiều khách nước ngoài khi yêu cầu anh đưa ra đảo hoang, họ đã chuẩn bị sẵn từ thực phẩm đến các vật dụng cho một chuyến thám hiểm.

< Một hòn đảo nhỏ ở Phú Quốc vừa có bãi cát và bãi đá nhưng lại ít người lui tới.

Họ yêu cầu tàu sau khi đưa họ lên đảo phải đi thật xa, xa đến khi nào họ không còn nhìn thấy ai và cũng đừng ai nhìn thấy họ. Thế nhưng, cũng có khách nằng nặc đòi phải có mặt Tuấn, họ mới đồng ý lên tàu ra đảo hoang. Hoặc có người ra đảo chỉ mong tìm được nơi riêng tư. “Nhiều khách nước ngoài ra hoang đảo để được thoải mái… thoát y mà không sợ ai nhìn ngó”, một hướng dẫn viên tại Phú Quốc kể.

Cũng quanh những câu chuyện “Tiên đồng ngọc nữ” trên đảo hoang này, có lần “tai nạn nghề nghiệp” xảy ra khi những fan của Robinson trong lúc đang… “mặc quần áo của tự nhiên” thì vô tình chạm mặt với ngư dân đánh bắt gần đảo.

Sau lần đó, những người làm du lịch đã chọn lọc kỹ giờ giấc đưa khách ra đảo để tránh những “khán giả bất đắc dĩ”.
Xem thêm >

Theo Tiến Trình (iHay.Thanhnien)


Ra Phú Quốc làm 'chúa đảo'